Home Văn Mẫu THPTVăn Lớp 12 Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học ngoài chương trình cho học sinh chuyên văn – Bài 23

Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học ngoài chương trình cho học sinh chuyên văn – Bài 23

by Minh Nguyệt

Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học ngoài chương trình cho học sinh chuyên văn-bài 23

Hướng dẫn

RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH

CHO HỌC SINH CHUYÊN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

  1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI. 3
  2. Xuất phát từ mục tiêu đào tạo. 3
  3. Xuất phát từ thực tế chương trình. 3

2.1. Chương trình học. 3

2.1. Chương trình thi 4

  1. Xuất phát từ thực tế HS chuyên. 4
  2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI. 4
  3. Về kiến thức. 4
  4. Về kĩ năng. 4
  5. Về thái độ. 4

NỘI DUNG

PHẦN THỨ NHẤT

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC

  1. ĐỌC HIỂU VÀ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC.. 5
  2. Đọc hiểu tác phẩm văn học. 5
  3. Kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học. 5
  4. MỘT SỐ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC.. 6

III. QUAN ĐIỂM CỦA CHUYÊN ĐỀ VỀ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TPVH.. 6

  1. Cách sử dụng các kĩ năng đọc hiểu. 6
  2. Vai trò của GV.. 6
  3. Vai trò của HS. 6
  4. Cách tiến hành đọc hiểu. 6
  5. Kết quả đọc hiểu. 7

PHẦN THỨ HAI

RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH

CHO HỌC SINH CHUYÊN

  1. ĐỊNH HƯỚNG CHỌN TÁC PHẨM ĐỂ ĐỌC HIỂU.. 7
  2. Vì sao cần định hướng chọn tác phẩm đọc hiểu?. 7

1.1. Vì chủ quan HS. 7

1.2. Vì khách quan VH.. 7

  1. Cơ sở định hướng chọn tác phẩm đọc hiểu. 8

2.1. Tác phẩm thuộc Chương trình chuyên sâu cho HS chuyên. 8

2.2. Tác phẩm thuộc ngoài Chương trình có mối liên hệ với chương trình. 8

2.3. Tác phẩm ngoài Chương trình: hiện tượng văn học, xu hướng mới của sáng tạo văn học. 8

  1. TRANG BỊ HỆ THỐNG KIẾN THỨC LÍ LUẬN VĂN HỌC.. 8
  2. Vì sao phải trang bị hệ thống kiến thức LLVH khi rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học?. 8
  3. Những kiến thức Lí luận trọng tâm cần trang bị?. 9
  4. Cách tiến hành. 10

3.1. Trang bị kiến thức Lí luận văn học cho HS trước khi đọc hiểu bằng cách tổ chức có hiệu quảcác giờ dạy LLVH.. 10

3.2. Trang bị kiến thức Lí luận Văn học cho HS thông qua hoạt động đọc hiểu tác phẩm văn học. 10

2.3.3. Khắc sâu kiến thức Lí luận sau khi đọc hiểu tác phẩm văn học. 11

III. CÁC BƯỚC RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU.. 11

  1. Bước 1 (Trước khi đọc): Rèn kĩ năng đọc hiểu TPNCT qua việc hướng dẫn HS xác lập/xây dựng hồ sơ/thông tin về tác phẩm.. 11

1.1. Những thông tin về tác phẩm cần xây dựng là gì?. 11

1.2. Vì sao cần rèn cho HS kĩ năng này?. 11

1.3. Cách tiến hành. 13

  1. Bước 2 (Trong khi đọc): Rèn kĩ năng đọc hiểu TPNCT qua một vài con đường tiếp cận. 14

2.1. Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm từ phong cách tác giả. 14

2.2. Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm từ góc nhìn văn hoá. 14

2.3. Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm từ đặc trưng thể loại 16

2.4. Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm từ đặc trưng khuynh hướng văn học. 18

2.5. Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm bằng cách cho người đọc nhập vai/sáng tạo. 20

  1. Bước 3 (Sau khi đọc): Rèn kĩ năng đọc hiểu TPNCT qua việc tổ chức cho HS trình bày/trao đổi về kết quả đọc hiểu. 20

3.1. Các sản phẩm của HS là gì?. 20

3.2. Vì sao phải tổ chức cho HS trình bày/trao đổi sản phẩm?. 20

3.3. Cách tiến hành. 21

PHẦN THỨ BA

PHỤ LỤC: MỘT SỐ KẾT QUẢ RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU

TÁC PHẨM VĂN HỌC NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH CHO HS CHUYÊN

  1. Kết quả đọc hiểu tác phẩm VHDG: Trầu cau. 30
  2. Kết quả đọc hiểu tác phẩm văn học Trung đại Việt Nam: Dục Thuý sơn. 31

III. Kết quả đọc hiểu tác phẩm văn học Trung đại thế giới: Đônkihôtê. 32

  1. Kết quả đọc hiểu tác phẩm hiện đại Việt Nam: Phiên chợ Giát 33
  2. Kết quả đọc sáng tạo Vi hành bằng cách nhập vai, kể lại theo cách mới 41

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

  1. Kết luận 51
  2. Khuyến nghị 51

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TỪ VIẾT TẮT XIN ĐỌC LÀ
CT; SGK CHƯƠNG TRÌNH; SÁCH GIÁO KHOA
GV; HS GIÁO VIÊN; HỌC SINH
LLVH LÍ LUẬN VĂN HỌC
HSG; VB HỌC SINH GIỎI; VĂN BẢN
TPNCT TÁC PHẨM NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH
VH; VHDG VĂN HỌC; VĂN HỌC DÂN GIAN
NLVH NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
TPVH TÁC PHẨM VĂN HỌC

RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU

TÁC PHẨM VĂN HỌC NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH

CHO HỌC SINH CHUYÊN

MỞ ĐẦU

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

  1. Xuất phát từ mục tiêu đào tạo

Sự phát triển như huyền thoại của khoa học công nghệ thế kỉ XXI đã tạo cho cá nhân và cộng đồng nhiều vận hội mới nhưng cũng đặt họ trước những thách thức mới đòi hỏi phải có những năng lực mới, phẩm chất mới. Đào luyện ra những công dân mới này có phần trọng trách của ngành Giáo dục, trong đó có bộ môn Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông. Thực hiện nhiệm vụ đó, dạy đọc hiểu và rèn luyện cho người học năng lực đọc hiểu là công việc mà người dạy Ngữ Văn hôm nay không thể đứng ngoài. Bởi, “đọc hiểu mở ra cả chân trời của tri thức, kinh nghiệm sống, tương tác xã hội. Đọc hiểu tạo ra cơ hội để cá nhân thực sự phát triển, gắn bó với định hướng học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu xã hội hiện đại đặt ra cho con người” (Phạm Thị Thu Hương: Đọc hiểu và Chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông – NXB ĐHSP 2018 – Trang 14). Bởi, theo PISA, đọc hiểu là một lĩnh vực đánh giá giáo dục. Như vậy, đọc hiểu là vấn đề quan trọng của Giáo dục phổ thông nói chung và bộ môn Ngữ Văn nói riêng. “Hiểu là mục đích quan trọng của việc đọc. Nhưng hiểu không tự nhiên mà đến. Hiểu không phải là sự may rủi tình cờ. Hiểu cũng không phải là kết quả bấp bênh được chăng hay chớ” (Sđd). Do đó, người học rất cần được trang bị kĩ năng đọc hiểu và kĩ năng đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình là vấn đề rất có ý nghĩa với HS chuyên. Đó là lí do thứ nhất chúng tôi chọn chuyên đề này.

  1. Xuất phát từ thực tế chương trình

2.1. Chương trình học

Chương trình Ngữ Văn của HS chuyên ngoài những kiến thức trong SGK Nâng Cao, Bộ GD – ĐT đã biên soạn một tài liệu CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC CHUYÊN SÂU vào tháng 12/2009. Trong tài liệu này có 32 chuyên đề chuyên sâu ở hầu hết các mảng kiến thức và kĩ năng: Tiếng Việt, Làm Văn, Lý luận Văn học và Các tác giả, tác phẩm ngoài SGK. Riêng phần tác phẩm, tài liệu chỉ dừng ở mức độ định hướng lựa chọn tác phẩm, đưa ra vài định hướng nội dung cần khai thác và cung cấp tên tài liệu tham khảo. Mặt khác, vì không có mặt trong SGK nên những tác phẩm này hầu như mới lạ với người học. Với HS, các tác phẩm này tựa như một thế giới mới lạ và việc tìm ra con đường giúp các em khám phá thế giới ấy là một công việc khó khăn nhưng không thể không làm.

2.1. Chương trình thi

Bài thi HSG của HS chuyên ở các cấp đều có liên quan mật thiết đến các tác phẩm ngoài chương trình. Phần lớn các đề thi HSG đều lấy cơ sở là Lý luận văn học – tức là vấn đề khoa học có ý nghĩa phổ quát, đòi hỏi người học phải có kiến thức tác phẩm phong phú. Điều này đòi hỏi người học không chỉ trình bày hiểu biết về tác phẩm trong mà cả ngoài chương trình, không chỉ viết ra những cái được học mà phải biết viết ra những cái tự học. Muốn làm được điều đó, HS phải được trang bị kĩ năng đọc hiểu để tăng khả năng độc lập và cơ hội tìm hiểu, tích luỹ tri thức tác phẩm. Đó là lí do thứ hai chúng tôi chọn chuyên đề này.

  1. Xuất phát từ thực tế HS chuyên

Dù mức độ khác nhau, song khi chọn học chuyên Văn, HS chuyên Văn có tình cảm với môn học, có hứng thú với việc khám phá văn chương. HS chuyên Văn là đối tượng được trang bị một cách hệ thống kiến thức và kĩ năng về Văn học, đặc biệt là hệ thống kiến thức Lý luận Văn học. Mảng kiến thức này sẽ trở thành bộ công cụ hữu ích, thành sự đảm bảo mang tính khoa học cho việc tiếp cận tác phẩm của các em. Nhưng, sinh trưởng trong thế kỉ XXI, HS chuyên Văn cũng như các HS khác, không tránh khỏi những hạn chế chung: vốn sống ảo có nguy cơ lấn lướt vốn sống thực tế; thói quen lướt web cốt mãn nhãn đàn áp thói quen đọc chậm cần nghĩ sâu; trí tưởng tượng, sức liên tưởng mang đến những hình dung thẩm mĩ khi đọc tác phẩm đang trở nên yếu ớt trước sự tấn công bão táp của công nghệ nghe nhìn kiểu bánh đúc bày sàng…Thêm vào đó là sự non nớt của tuổi đời, tuổi trí. Thực tế đó khiến HS chuyên nhưng khả năng đọc hiểu tác phẩm còn hồn nhiên, cảm tính, thiếu chiều sâu và khoa học. Rèn cho HS kĩ năng đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình là góp phần phát huy thế mạnh, khắc phục điểm yếu của HS chuyên. Đó là lí do thứ ba chúng tôi chọn chuyên đề này.

  1. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
  2. Về kiến thức

Như trên đã trình bày, một trong những phẩm chất quan trọng của HS chuyên là phải có kiến thức rộng rãi, phong phú. Bởi, biết rộng là một trong những yếu tố để hiểu sâu; biết rộng mới có sức để giải quyết các yêu cầu bài thi HSG thường gắn với các vấn đề mang tính phổ quát. Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình là cơ hội quý báu giúp HS mở rộng kiến thức, phục vụ tốt hơn cho học tập và thi cử cũng như có cơ hội mở rộng hiểu biết, bồi đắp thêm vốn sống gián tiếp.

  1. Về kĩ năng

Dạy học nói chung không chỉ cho HS cái gì mà quan trọng hơn cả là cho chúng cách gì để chúng tìm hiểu, chiếm lĩnh những giá trị mà không thầy cô, sách vở, nhà trường nào trang bị cho xuể. Rèn cho HS kĩ năng đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình, chúng tôi mong muốn trao cho HS một số chìa khoá, chỉ ra cho các em một số con đường để các em tự chiếm lĩnh các giá trị mà các em mong muốn trong văn chương cũng như ngoài cuộc sống.

  1. Về thái độ

Thực hiện chuyên đề này, chúng tôi không mong gì hơn là góp phần khơi dậy ở HS chuyên tình yêu với môn học, hứng thú với văn chương, hình thành và bồi dưỡng tinh thần khoa học trong học tập cũng như trong cuộc sống.

NỘI DUNG

PHẦN THỨ NHẤT

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC

ĐỌC HIỂU VÀ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC

  1. Đọc hiểu tác phẩm văn học

Lao động và ngôn ngữ là hai yếu tố khu biệt quan trọng giữa con người và thế giới sự sống, tạo nên sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Ngôn ngữ biểu hiện sự tồn tại của mình qua hoạt động giao tiếp. Trong giao tiếp không thể không nhắc đến đọc hiểu văn bản.

Đọc hiểu là một năng lực tiếp nhận văn bản, thông qua hoạt động đọc chữ, xem các kí hiệu bảng biểu, hình ảnh trong nhiều văn bản khác nhau nhằm xử lí thông tin trong văn bản để phục vụ những mục đích cụ thể của học tập hoặc để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của đời sống. Ở chuyên đề này, chúng tôi đi sâu vào kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học. Để hình thành khái niệm đọc hiểu tác phẩm văn học chúng tôi đi từ đọc hiểu văn bản.

Văn bản văn học và tác phẩm văn học là hai khái niệm thống nhất nhưng không đồng nhất cần phân biệt ở phương thức tồn tại của nó. Văn bản văn học được sáng tác ra để thưởng thức, tiếp nhận. Sau khi được tác giả hoàn thành, nó tồn tại dưới dạng văn bản kí tự, chỉ khi đến tay người đọc, bắt đầu đời sống tạo nghĩa nó mới thật sự trở thành tác phẩm văn học. Vì thế muốn văn bản văn học trở thành tác phẩm văn học phải được đặt trong hệ thống tiếp nhận. Văn bản văn học với tư cách là một hệ thống kí hiệu mang nghĩa, tạo nghĩa, là cấu trúc cho sẵn, có tính chất đóng, tĩnh nhưng lại là hộp đen chứa bí mật như trò chơi có tính thử trí … trong mối tương quan mở, có tính chất động như mời gọi tham dự luật chơi với sự tiếp nhận của người đọc. Ý nghĩa của nó thay đổi theo bạn đọc, điều kiện và lịch sử xã hội của tiếp nhận, không cố định, bất biến mà phụ thuộc vào cuộc đối thoại đa chiều giữa tác giả, người đọc và những hiện thực cụ thể. Vì thế trong phạm vi nào đó, đọc hiểu tác phẩm chính là đọc hiểu văn bản khi đề cao chủ thể tiếp nhận – người đọc tích cực sáng tạo.

Đọc hiểu tác phẩm văn học là hoạt động tiếp nhận các văn bản có tính tích cực chủ động sáng tạo. Ðọc hiểu có nghĩa là đọc là giải mã các mã hóa, tháo gỡ các ký hiệu ngôn ngữ trong văn bản để hiểu được một nội dung ý nghĩa được chứa đựng/chưa được tạo lập trong văn bản. Thông qua các yếu tố ngôn ngữ, hình thức, cấu trúc, thể loại của văn bản, người đọc tổng hợp các khâu của việc đọc – cảm tưởng, phân tích, đối chiếu, tổng hợp, đánh giá, v.v… phát hiện và sáng tạo nội dung ý nghĩa bằng chính thế giới tưởng tượng của mình một cách tích cực, bằng sự nhập cuộc hóa thân, với những cảm xúc riêng của mình, những kỉ niệm, ký ức, khát vọng, cảm xúc, tư duy, tình cảm riêng của mình.

  1. Kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học

Đọc hiểu tác phẩm văn học là hoạt động người đọc tiếp xúc làm việc với văn bản. Văn bản văn bản là một mã, một hộp đen, một chỉnh thể mang nghĩa tạo nghĩa. Điều này tạo ra nhiều rào cản, khó khăn cho hoạt động đọc hiểu. Để công việc đọc hiểu tác phẩm đạt hiệu quả cao đáp ứng mục tiêu đề ra, người đọc phải có những kĩ năng nhất định. Việc xây dựng và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học rất quan trọng và có ý nghĩa đối với đọc hiểu và nhất là đối với đọc hiểu văn bản trong nhà trường.

Kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học là những hoạt động có tính chất kĩ thuật, kĩ xảo được thực hiện theo các bước, quy trình cách thức, phương pháp nhất định thể hiện khả năng, năng lực của người đọc giải quyết nhiệm vụ đọc hiểu một văn bản, một tác phẩm văn học. Kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học chúng tôi hướng tới đối tượng học sinh vì thế các kĩ năng này phải được lặp đi lặp lại theo các bước của một cách thức quy trình hướng tới giải quyết nhiệm vụ học tập đọc hiểu tác phẩm.

  1. MỘT SỐ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC

Đọc hiểu tác phẩm văn học là hoạt động người đọc tiếp xúc văn bản, giải mã và lĩnh hội văn bản. Hoạt động đọc hiểu rất phong phú và luôn vận động. Theo GS Trần Đình Sử trong công trình “Văn bản VH và Đọc hiểu văn bản”, xuất phát từ tính cấu trúc, nghĩa và ý nghĩa văn bản, đã đề xuất một số cách đọc: Đọc là giải thích, giải mã; Đọc biểu tượng văn học; Đọc lấp chỗ trống;.. (Tài liệu chuyên Văn, tập một, NXBGDVN, 2012). Ngoài ra, nhìn vào lịch sử phê bình – một dạng tiếp cận, đọc hiểu Văn học, có thể kể ra một số cách đọc tiêu biểu: Thực chứng, Hình thức, Hình tượng học, Kí hiệu học, Cấu trúc, Tâm lí học, Giải thích học, Xã hội học, Tiểu sử, Văn hoá học, So sánh, Mĩ học, Thống kê, Loại hình…Tuy nhiên, theo GS Phương Lựu, các phương pháp tiếp cận đều ít nhiều có xu hướng thổi phồng, bơm to đến cực đoan, phiến diện. Mặt khác, có một thực tế không thể phủ nhận là tác phẩm văn học luôn tồn tại như một chỉnh thể thống nhất giữa các mặt. Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đề xuất quan điểm về kĩ năng đọc hiểu cho HS chuyên như sau (mục III)

III. QUAN ĐIỂM CỦA CHUYÊN ĐỀ VỀ KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TPVH

Với chuyên đề về kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học chúng tôi có một số quan điểm.

  1. Cách sử dụng các kĩ năng đọc hiểu

Không đề cao, không tuyệt đối hoá một cách thức, một con đường đọc hiểu cụ thể nào. Trên đặc điểm của văn bản mà sử dụng linh hoạt những con đường, cách thức công cụ, kĩ thuật đọc hiểu cho phù hợp.

  1. Vai trò của GV

Giáo viên không đọc hộ, hiểu hộ, làm hộ, tạo ra sản phẩm thay cho HS. Giáo viên với tư cách là người đọc chuyên nghiệp, kinh nghiệm, sẽ là người định hướng các bước, quy trình đọc hiểu, cung cấp công cụ, cách thức để HS có thể đọc hiểu đúng văn bản văn học.

  1. Vai trò của HS

HS là chủ thể đọc hiểu độc lập không bị lệ thuộc vào cách đọc cách hiểu của một ai. Mỗi cá nhân sẽ có một cách đọc phù hợp cho mình tạo dựng cho mình một tác phẩm văn học. Trên cùng một văn bản, với mỗi chủ thể sẽ có những kiến giải, ý nghĩa riêng biệt.

  1. Cách tiến hành đọc hiểu

Trong quá trình rèn kĩ năng, chúng tôi đi từ đọc hiểu tác phẩm trong chương trình mở rộng ra các tác phẩm ngoài chương trình bao quát hết cả văn học dân gian, văn học viết, trong và ngoài nước, các nền văn học lớn, các khuynh hướng lớn nhằm dẫn HS đi từ quen đến lạ, từ gần đến xa, từ hẹp đến rộng, từ cái đọc để dẫn đến cách đọc.

  1. Kết quả đọc hiểu

Có sản phẩm đọc hiểu của HS và sản phẩm đó được đưa ra trao đổi chia sẻ, được vận dụng vào đời sống. Đọc hiểu phải tạo ra những sản phẩm cụ thể. Qua sản phẩm đọc của HS, tạo lập môi trường giao tiếp cho văn học, xây dựng thư viện tài liệu tham khảo.

PHẦN THỨ HAI

RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC

NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH CHO HỌC SINH CHUYÊN

  1. ĐỊNH HƯỚNG CHỌN TÁC PHẨM ĐỂ ĐỌC HIỂU
  2. Vì sao cần định hướng chọn tác phẩm đọc hiểu?

1.1. Vì chủ quan HS

Đọc hiểu tác phẩm là hướng tới việc tiếp nhận văn. Đối tượng của chuyên đề của chúng tôi là HS trung học phổ thông đặc biệt là phổ thông chuyên. Một đối tượng có đặc thù riêng vì thế cần phải định hướng lựa chọn tác phẩm đọc hiểu cho phù hợp với đối tượng. Học sinh phổ thông đang ở lứa tuổi ý thức cá nhân phát triển mạnh, nhân sinh quan và thế giới quan đang hình thành, phát triển, chi phối sự phát triển nhân cách của các em. Những quan niệm của bản thân về cuộc sống, về gia đình, bạn bè, về lí tưởng, niềm tin, nghề nghiệp tương lai đã có chủ định. Tuy nhiên, vốn sống và tầm tri thức của các em còn nhiều hạn hẹp, các em đang ngồi trên ghế nhà trường, đang trong hành trình tiếp nhận tri thức toàn diện, chuẩn bị hành trang cần thiết để có thể tự lập bước vào đời. Trên đặc điểm HS, chúng tôi định hướng tác phẩm có những giá trị mang tính nhân bản giáo dục về lòng thiện cho con người – đặt cơ sở để từ đó làm nảy sinh những tình cảm tốt đẹp hơn.Tuy nhiên, ngoài việc chọn tác phẩm thích hợp lứa tuổi, cần chọn các tác phẩm hay. Chúng tôi chọn những tác phẩm có thể đi đúng vào nhịp tâm hồn, tình cảm và khao khát của tâm hồn HS lựa chọn tác phẩm giàu tính thẩm mĩ, thông qua kĩ năng đọc hiểu, huy động kích thích tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.

Một điều cần quan tâm hơn nữa trong quá trình định hướng chọn tác phẩm đọc hiểu là mối quan hệ chuyên đề với kiểm tra đánh giá. Các tác phẩm sẽ một phần nào phục vụ tốt hơn cho các em nhiệm vụ học tập của HS. Vì thế chúng tôi lựa chọn những tác phẩm giúp các em mở rộng phạm vi kiến thức làm tốt hơn bài viết nghị luận xẫ hội nghị luận văn học, đồng thời nó cũng là nền tảng hướng tới đến một tác phẩm văn giá trị phát huy tích cực động lực để các em trong việc tìm tòi, khám phá tác phẩm khác sau khi rời ghế nhà trường.

1.2. Vì khách quan VH

Tác phẩm văn học phong phú đa dạng về số lượng, về tác giả, về khuynh hướng, về cả nội dung hình thức. Mặt khác, VH và VH trong nhà trường phổ thông của chúng ta, nói như GS Đặng Anh Đào, vừa song hành vừa lỗi nhịp. Vậy đọc hiểu tác phẩm nào, tác giả nào, giai đoạn nội dung nào, dung lượng ra sao, để vừa đủ mới để khơi gợi hứng thú vừa không quá lạ lẫm để tránh sự bối rối, lúng túng cho HS luôn là câu hỏi khi chúng tôi lựa chọn tác phẩm hướng dẫn HS đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình. Vì vậy chúng ta cần có sự định hướng lựa chọn tác phẩm đọc hiểu cho HS.

Tác phẩm văn học được đưa vào đọc hiểu phải là những sáng tác được chọn lọc trong kho tàng văn học của các nước trên thế giới. Nói cách khác, đó là những tác phẩm đã vượt qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian, không gian để trở thành tinh hoa văn hóa nhân loại. Hơn nữa, đó là những sáng tác rất giàu giá trị nhân văn, giàu tinh thần dân tộc, có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục tình cảm cao đẹp, bồi dưỡng tâm hồn trong sáng, ý thức hướng tới điều thiện, giáo dục nhân cách cho người học. Đó là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật lớn, đạt trình độ mẫu mực được viết ra bởi tài năng nghệ thuật bậc thầy của các nhà văn xuất sắc trên thế giới.

Đọc hiểu tác phẩm chúng tôi lựa chọn đa dạng tác phẩm văn học theo tiến trình lịch sử cả văn học dân gian với văn học viết, văn học cổ với văn học hiện đại để HS có cái nhìn tổng quan, có cả văn học nước ngoài và văn học trong nước để HS có cái nhìn đối chiếu so sánh với văn học Việt Nam, học sinh có thể thấy được ảnh hưởng sâu rộng của văn học nước ngoài đến văn học nước nhà và thấy được vị thế của văn học dân tộc trong kho tàng vô giá của nhân loại.

  1. Cơ sở định hướng chọn tác phẩm đọc hiểu

2.1. Tác phẩm thuộc Chương trình chuyên sâu cho HS chuyên

2.2. Tác phẩm thuộc ngoài Chương trình có mối liên hệ với chương trìnhSGK

Đó là các tác phẩm của cùng tác giả đã học trong chương trình, hoặc tác giả trong giai đoạn mà các em đã được học, hoặc giai đoạn, hoặc khuynh hướng …

2.3. Tác phẩm ngoài Chương trình: hiện tượng văn học, xu hướng mới của sáng tạo văn học.

  1. TRANG BỊ HỆ THỐNG KIẾN THỨC LÍ LUẬN VĂN HỌC
  2. Vì sao phải trang bị hệ thống kiến thức LLVH khi rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm văn học?

Cùng với việc định hướng chọn tác phẩm, chúng tôi luôn chú trọng việc trang bị hệ thống kiến thức LLVH, xem đó như là bộ công cụ đọc hiểu tác phẩm văn học. Có kiến thức lí luận đầy đủ, chắc chắn không chỉ giúp học sinh chuyên Văn giải quyết tốt các dạng đề nghị luận văn học có vấn đề lí luận mà trước hết, đó còn là bộ công cụ “bất li thân” của học sinh trên hành trình khám phá thế giới văn chương vô cùng phong phú, đa dạng.

Theo Từ điển văn học (Bộ mới), lí luận văn học là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện lí thuyết khái quát. Lí luận văn học nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng thẩm mĩ-xã hội của nó, đồng thời xác định phương pháp luận và các phương pháp phân tích tác phẩm.

Lí luận văn học nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học và đời sống, giữa văn học và các loại hình nghệ thuật khác, từ đó làm nổi bật đặc trưng, vị trí của văn học.

Bên cạnh đó, lí luận văn học còn đi sâu khám phá các phương diện nội dung, nghệ thuật; các yếu tố thuộc chỉnh thể tác phẩm như đề tài, chủ đề, cảm hứng…, ngôn ngữ, kết cấu, cốt truyện, nhân vật…; đặc trưng các thể loại thơ, truyện, kịch, văn nghị luận. Kiến thức về tiến trình văn học thế giới; đặc điểm của các trào lưu, trường phái, xu hướng văn học trong lịch sử phát triển; phong cách nghệ thuật nhà văn, vấn đề người tiếp nhận… tất cả đều thuộc phạm vi nghiên cứu của lí luận văn học.

Như vậy, kiến thức lí luận luôn mang tính chất tổng kết, khám phá những vấn đề cốt lõi, bản chất của văn học. Nắm vững kiến thức lí luận là cách giúp người học văn trang bị cho mình một thứ bảo bối để chủ động, tự tin trong mọi tình huống: làm văn hay đọc văn; để giải mã cắt nghĩa hàng trăm, hàng nghìn tác phẩm văn học từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, trong chương trình hay ngoài chương trình. Và nhất là khi tiếp cận các tác phẩm văn học ngoài chương trình, sự am hiểu về lí luận sẽ giúp học sinh tránh được tình trạng: hoặc đọc hiểu một cách sơ sài, qua loa; hoặc cảm nhận một cách chủ quan, cảm tính, thiếu cơ sở khoa học và ít tính thuyết phục. Từ đó giúp học sinh hiểu được cái đẹp trong tác phẩm là có lí, có ích, là cái có thể giải thích, đánh giá và diễn đạt một cách tương đối rõ ràng, là cái có thể gọi tên, có thể định lượng ra trong những khái niệm trừu tượng. Đồng thời với việc giúp học sinh cảm thụ cái đẹp văn chương một cách tự giác, lí luận văn học góp phần phát triển năng lực văn, tạo cơ sở bồi dương năng lực tư duy, năng lực sống cho học sinh. F. Ăng-ghen trong cuốn Phép biện chứng tự nhiên đã cho rằng: Một dân tộc muốn đứng trên đỉnh cao của khoa học thì không thể phút giây nào vắng tư duy lí thuyết. Chúng tôi cũng cho rằng: muốn chiếm lĩnh vẻ đẹp của các tác phẩm văn chương, học sinh chuyên Văn không thể thiếu kiến thức về lí luận.

Xác định lí luận văn học có tầm quan trong như vậy với việc đọc hiểu tác phẩm văn học nhưng trên thực tế không ít học sinh kiến thức lí luận còn mỏng. Có học sinh có kiến thức nhưng chưa biết cách vận dụng.

Chính vì những lí do trên, chúng tôi cho rằng việc trang bị lí luận văn học cho học sinh là thực sự cần thiết.

  1. Những kiến thức Lí luận nào là trọng tâm cần trang bị?

Nếu quan tâm đến thời sự văn học, chúng ta sẽ thấy, cũng giống như các lĩnh vực khoa học khác, đời sống văn học luôn sôi động. Riêng lí luận văn học cũng luôn được đổi mới và hiện đại hóa. Với yêu cầu của học sinh chuyên Văn, để giúp các em đọc hiểu tốt hơn các tác phẩm văn học ngoài chương trình, chúng tôi nhận thấy cần trang bị tốt cho học sinh những kiến thức Lí luận trọng tâm sau:

– Đặc trưng văn học

– Các giá trị, chức năng văn học

– Các khuynh hướng, phương pháp sáng tác

– Thể loại văn học

– Phong cách nghệ thuật

– Tiếp nhận văn học

  1. Cách tiến hành

Trong ấn tượng của nhiều người, kể cả giáo viên lẫn học sinh, lí luận văn học vẫn là phân môn vừa khô, vừa khó, lại vừa khổ. Điều đó không phải không có lí do bởi kiến thức lí luận mang tính tổng kết, khái quát; là kết quả của tư duy hơn là cảm xúc; lại biểu hiện ra bằng khái niệm, thuật ngữ khoa học chứ không phải hình tượng sống động; đúc rút thành quy luật chứ không phải hiện tượng. Làm thế nào để giúp người học văn cảm thấy lí luận văn học thực sự là một hệ thống kiến thức không xa vời, khó hiểu mà thực sự gần gũi, hấp dẫn; rất thiết thân và hữu hiệu trong việc đọc hiểu? Để làm được điều này, chúng tôi đề xuất một số giải pháp trong việc trang việc tiến hành trang bị kiến thức lí luận cho học sinh như sau:

3.1. Trang bị kiến thức Lí luận văn học cho HS trước khi đọc hiểu bằng cách tổ chức có hiệu quả các bài dạy về LLVH:

– Các bài học về Lí luận văn học trong CT Ngữ Văn Nâng cao từ lớp 10 đến lớp 12.

– Các chuyên đề chuyên sâu về Lí luận văn học trong CT dạy học chuyên sâu môn Ngữ văn.

Trong quá trình trang bị các kiến thức Lí luận này, chúng tôi luôn cố gắng làm rõ bằng chính tác phẩm văn học cụ thể. Chẳng hạn, khi dạy cho HS đặc điểm của hình tượng văn học là thống nhất của các mặt khách quan và chủ quan, cụ thể và khái quát, tính tạo tình và biểu hiện, chúng tôi lưu ý các em, những hình tượng Thúy Kiều (Truyện Kiều – Nguyễn Du), Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao), A.Q (A.Q. Chính truyện-Lỗ Tấn), Grigori (Sông Đông êm đềm – Sô-lô-khốp), Kizuki, Naoko, Reiko (Rừng Na-uy– Murakami)… không chỉ là những nhân vật hay con người cụ thể mà đó còn là sự hình tượng hóa, là tiêu biểu cho những tầng lớp, những kiểu người, những số phận trong những thời đại và xã hội nhất định trong lịch sử; là gửi gắm những yêu thương, day dứt, trở trăn của người nghệ sĩ về chính hiện thực đó.

3.2. Trang bị kiến thức Lí luận Văn học cho HS thông qua hoạt động đọc hiểu tác phẩm văn học

Kiến thức Lí luận không dễ nhớ, càng không dễ hiểu một cách thấu đáo nếu ta dạy Lí luận bằng lí luận, lí thuyết bằng lí thuyết. Để làm xanh tươi cái lí thuyết vốn chỉ là màu xám (theo cách nói của Gớt), trong quá trình tiếp cận tác phẩm, chúng tôi luôn chú ý tiếp tục hướng dẫn học sinh học, hiểu và nhớ lí luận từ chính thực tiễn tác phẩm.

Ví dụ, khi hướng dẫn HS đọc hiểu bài ca dao Gần nhà sao chẳng sang chơi/ Để anh ngắt ngọn mùng tơi làm cầu; Truyện ngắn Miếng da lừa (Ban – dắc) để giúp HS nắm được đặc trưng đối tượng VH, chúng tôi yêu cầu học sinh xác định đối tượng hướng tới của các văn bản. Chính câu trả lời của các em đã là minh chứng để thêm một lần lí luận thuyết phục các em rằng: các văn bản trên cũng như văn học nói chung quan tâm đến những quan hệ người kết tinh trong cây cầu được bắc bởi dậu mùng tơi, miếng da lừa kì lạ kia… chứ không phải là bản thân sự vật được nhà văn nói đến trong tác phẩm văn chương. Nói cách khác đối tượng của văn học là toàn bộ hiện thực nhưng ở bình diện các quan hệ của đời sống xã hội con người.

3.3. Khắc sâu kiến thức Lí luận sau khi đọc hiểu tác phẩm văn học

Công việc này chúng tôi thường làm qua hai bước như sau:

Bước 1: Khắc sâu kiến thức LLVH cho HS thông qua việc đọc hiểu các tài liệu phê bình, nghiên cứu tác phẩm. Phần này, chúng tôi yêu cầu HS sưu tầm tài liệu qua nhiều nguồn. Sau đó, hướng dẫn HS nắm kiến thức Lí luận bằng cách trả lời các câu hỏi sau:

– Tài liệu viết về vấn đề gì?

– Vấn đề đó sử dụng những đơn vị kiến thức Lí luận VH nào?

– Kiến thức Lí luận VH đó được sử dụng như thế nào và hiệu quả ra sao?

– Từ đó, em rút ra bài học gì khi học và vận dụng LLVH?

Trả lời tốt các câu hỏi triên, HS không những có điều kiện củng cố kiến thức mà còn có thêm kĩ năng vận dụng LLVH vào việc đọc hiểu và tạo lập văn bản.

Bước 2: Tạo lập VB có liên quan đến LLVH. Đó là hoạt động kiểm tra, đánh giá thông qua các đề bài về LLVH. Từ chỗ hiểu và tin, học sinh sẽ có khả năng vận dụng lí luận vào việc giải quyết nhiều tình huống khác nhau trong quá trình học Văn, mà thiết thực nhất chính là các bài nghị luận văn học có vấn đề lí luận. Đây chính là lúc HS biến kiến thức chung thành kiến thức của bản thân, từ lí thuyết vào hành thực tiễn. GV qua việc chấm bài dễ dàng nhận ra ưu và khuyết, được và chưa được của HS để điều chỉnh việc giảng dạy.

III. CÁC BƯỚC RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU

  1. Bước 1 (Trước khi đọc): Rèn kĩ năng đọc hiểu TPNCT qua việc hướng dẫn HS xác lập/xây dựng hồ sơ/thông tin về tác phẩm

1.1. Những thông tin về tác phẩm cần xây dựng là gì?

Để khám phá được vẻ đẹp văn chương mênh mông, bí ẩn trong mỗi tác phẩm văn học, với người đọc, chỉ có trong tay bản thân văn bản thôi chưa đủ. Thiết nghĩ, hồ sơ thông tin về tác phẩm phải hội đủ cả những hiểu biết trong văn bản và ngoài văn bản; thông tin về văn bản cần đọc hiểu với thông tin liên văn bản; văn bản đó trong mối quan hệ lịch đại và đồng đại…

Cụ thể, khi đọc hiểu tác phẩm văn học ngoài chương trình, học sinh cần xác lập/xây dựng những thông tin sau:

+ Tác phẩm đó của ai? Tác giả là người như thế nào?

+ Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh nào? (hoàn cảnh lớn, hoàn cảnh nhỏ, hoàn cảnh cảm hứng)

+ Tác phẩm được sáng tác theo phương pháp/ khuynh hướng nào?

+ Hình tượng trung tâm của tác phẩm?

+ Nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm?

1.2. Vì sao cần rèn cho HS kĩ năng này?

– Những thông tin trên rất đa dạng, phong phú: phong phú trong bản thân mỗi loại thông tin (như thông tin về tác giả, về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm), đa dạng với nhiều loại thông tin liên quan đến một tác phẩm. Song dù đa dạng, phong phú, thậm chí phức tạp đến đâu, người nắm vững lí luận cũng nhận thấy rằng, tất cả các thông tin này đều liên quan chặt chẽ đến nhau bởi mối quan hệ nhân quả cũng như liên quan chặt chẽ với TP và việc đọc hiểu tác TP.

– Tác phẩm văn học là con đẻ tinh thần của nhà văn. Vì vậy, đọc văn không thể không biết tác giả là ai. Thực tế cho thấy, với nhà văn lớn, gần như tất cả mọi yếu tố từ thời đại, quê hương, gia đình, tính cách đến những thăng trầm trong cuộc đời họ đều ít hay nhiều đều để lại dấu ấn trong sáng tác. Thông tin về tác giả sẽ là một kênh thông tin đáng tin cậy giúp người tiếp nhận hiểu và lí giải được nhiều vấn đề trong tác phẩm. Ví dụ: Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh là tác phẩm viết về chiến tranh đáng được đọc. Nhập ngũ khi mới 17 tuổi (1969), tác giả đã từng tham gia chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên ác liệt cho đến khi chiến tranh kết thúc. Những trải nghiệm khó quên đó của nhà văn giúp ông tái hiện chân thực và ám ảnh một gương mặt khác về cuộc chiến của dân tộc. Năng lực chữ nghĩa dồi dào, văn phong giàu hình ảnh, trầm buồn, uyển chuyển, bất ngờ nhưng rất thực, rất đời luôn khiến người đọc cảm thấy tin cậy, chia sẻ và cộng hưởng phải chăng có một phần tác giả Nỗi buồn chiến tranh được tiếp thu từ cái nôi gia đình: ông chính là con thứ của giáo sư ngôn ngữ Hoàng Tuệ.

– Bên cạnh thông tin về tác giả, tìm hiểu thông tin về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm cũng quan trọng không kém. Mỗi tác phẩm đều gắn với một hoàn cảnh lịch sử, xã hội nhất định (hoàn cảnh rộng). Thêm nữa, viết văn phải có hứng. Cảm hứng chỉ nảy sinh trong những hoàn cảnh đặc biệt (hoàn cảnh hẹp, hoàn cảnh cảm hứng). Nhiều khi tác động bên ngoài giống như một cú hích tinh thần khiến nhà văn không viết ra không được như trường hợp Hàn Mặc Tử viết Đây thôn Vĩ Dạ, Hoàng Cầm viết Bên kia sông Đuống. Tác phẩm viết về chiến tranh có nhiều. Nhưng khi chọn đề tài không mới này, mỗi nhà văn lại có một cách nhìn khác, không phải chỉ bởi nguyên tắc văn chương phải sáng tạo mà còn bởi các tác phẩm ra đời trong những hoàn cảnh khác nhau. Cái nhìn sử thi trong Mảnh trăng cuối rừng và Dấu chân người lính dường như đã nhường chỗ cho cái nhìn đời tư, thế sự trong Cỏ lau dù đó đều là những tác phẩm Nguyễn Minh Châu viết về chiến tranh. Phải chăng, khi đã có một độ lùi nhất định về thời gian, khi chiến tranh đã đi qua (di họa chiến tranh vẫn còn), hoàn cảnh xã hội đã thay đổi, nhà văn sẽ có một cái nhìn khác về chính hiện thực một thời?! Như vậy, hoàn cảnh ra đời sẽ là cơ sở giúp người đọc tìm câu trả lời cho câu hỏi vì sao tác giả lại viết như thế này mà không phải là thế khác, thậm chí cho cả những điều tưởng như vô lí trong văn chương mà hoàn toàn có thể lí giải được khi gắn nó với hiện thực đời sống và hiện thực tâm hồn.

– Lịch sử văn học chứng kiến sự ra đời của nhiều phương pháp/ khuynh hướng sáng tác khác nhau. Tác phẩm văn học luôn gắn liền với một hoàn cảnh xã hội và thuộc về một phương pháp/ khuynh hướng sáng tác nhất định. Mỗi phương pháp/khuynh hướng sáng tác tại có những đặc điểm riêng về việc lựa chọn đề tài, chủ đề, hình tượng trung tâm cho đến các đặc điểm về nghệ thuật. Những thông tin này sẽ phát huy công năng hữu hiệu của nó khi người đọc khám phá các tác phẩm ngoài chương trình còn nguyên sự mới mẻ và đầy thách thức. Văn học Pháp thế kỉ XIX sừng sững hai cây đại thụ lớn là O. Ban – dắc và V. Huy – gô. Vì sao Tấn trò đời và Nhà thờ Đức bà Pa-ri lại khác nhau nhiều đến thế: từ bức tranh hiện thực được phản ánh đến cách xây dựng hình tượng trung tâm… Câu hỏi này hoàn toàn có thể lí giải được nếu người đọc có thông tin về khuynh hướng sáng tác hiện thực và khuynh hướng sáng tác lãng mạn phương Tây thế kỉ XIX.

– Bên cạnh đó, việc xác lập các thông tin về hình tượng trung tâm, nghệ thuật biểu hiện cũng là công việc cần thiết để hoàn thiện bộ hồ sơ về tác phẩm cần đọc hiểu. Theo Lí luận, văn học phản ánh hiện thực thông qua hình tượng nghệ thuật. Xác định đúng hình tượng trung tâm cùng những đặc điểm nghệ thuật nổi bật của tác phẩm sẽ giúp người đọc đi đúng hướng, tránh sa đà vào những yếu tố không quan trọng để có thể tiếp cận gần hơn, nhiều hơn những đặc sắc của tác phẩm.

1.3. Cách tiến hành

Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, việc xác lập/ xây dựng hồ sơ thông tin về tác phẩm văn học ngoài chương trình không phải là việc quá khó. Vấn đề là làm thế nào để công việc ấy thực sự có kết quả và phát huy được tác dụng trong việc đọc hiểu?

Thứ nhất, cần tìm hiểu trên nhiều nguồn, nhiều kênh thông tin, nhiều loại kiến thức khác nhau.

– Nguồn tài liệu, sách vở, phim ảnh tài liệu, vi deo.

Tuy nhiên, phải luôn là người đọc thông minh và tỉnh táo để phân biệt thật – giả; đúng – sai; cần thiết và không cần thiết trong thời đại mà chỉ cái một cái nhấp chuột chúng ta có thể đã có cả thế giới trong tay.

– Nguồn thực tế: Một cách làm nữa cũng đã phát huy hiệu quả trong việc nâng cao, mở rộng hiểu biết về tác giả, tác phẩm chính là việc tổ chức những chuyến đi thực tế về quê hương nhà văn; nói chuyện với nhà văn. Được trực tiếp đối thoại với tác giả, những người dân nơi nhà văn đã từng sống, từng viết, nhất là những người thân trong gia đình nhà văn (nếu nhà văn không còn nữa) chính là cơ hội để người đọc tiếp xúc với những nguồn tư liệu sống, giải đáp được những băn khoăn, làm đầy những mảng kiến thức còn khuyết thiếu trong bộ hồ sơ về tác phẩm.

Thứ hai, muốn có thông tin về tác phẩm, không thể thoát li việc đọc tác phẩm. Đọc và có ghi nhớ để xác định phương pháp/ khuynh hướng sáng tác, hình tượng trung tâm, những đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm. Đây là công việc đòi hỏi sự nghiêm túc, khoa học và cả kì công nữa.

Thứ ba, tổ chức các buổi trao đổi thông tin về tác phẩm giữa HS với HS, giữa GV với HS. Học từ thầy cô chưa đủ, HS có thể học từ chính bạn bè của mình.

Thêm nữa áp lực học tập của học sinh hiện nay là rất lớn. Đôi khi, chúng tôi vận dụng phương pháp chia nhóm vừa để giảm bớt khối lượng công việc, vừa tạo điều kiện cho học sinh có điều kiện chuyên sâu tìm hiểu nội dung mình phụ trách, đồng thời phát huy được thế mạnh, sở trường của từng đối tượng học sinh. Sau đó sẽ tổ chức thảo luận nhằm mục đích trao đổi thông tin, xác định tính chuẩn xác của thông tin, lựa chọn thông tin đúng và trúng giúp việc đọc hiểu đạt hiệu quả. (Chúng tôi sẽ minh hoạ cụ thể ở Bước 3)

  1. Bước 2 (Trong khi đọc): Rèn kĩ năng đọc hiểu TPNCT qua một vài con đường tiếp cận

2.1. Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm từ phong cách tác giả

Người nghệ sĩ là người sáng tạo nghệ thuật vì thế luôn luôn đề cao tính nghệ thuật, đề cao cái tôi cá nhân của người nghệ sĩ. Họ không chỉ nói lên tiếng nói riêng giọng điệu riêng mà còn ý thức viết cách biểu đạt độc đáo, riêng biệt từ đề tài, nhân vật, lối kết cấu cho đến hành văn, cách dùng từ, đặt câu … Đọc hiểu tác phẩm văn học, theo chúng tôi cho rằng, đi từ phong cách của tác giả là một trong những con đường quan trọng. Bởi vì trước hết phong cách chính là con người nhà văn. Nó được kết tinh từ thế giới quan, nhân sinh quan, chiều sâu và sự phong phú của tâm hồn, của vốn sống, sở thích, cá tính của tác giả. Và sau đó phong cách nghệ thuật biểu hiện ở một hệ thống hình thức biểu đạt có sự ổn định, nhất quán có giá trị trong hầu hết các tác phẩm, lặp đi lặp lại làm cho người đọc nhận ra sự khác biệt với tác phẩm của các tác giả khác và là con đường quan trọng để đọc hiểu đúng trúng tác phẩm. Tất nhiên, chỉ có thể tiếp cận con đường này đối với các tác giả lớn, có phong cách rõ nét, độc đáo.

Để đọc hiểu tác phẩm từ phong cách tác giả chúng tôi tiến hành theo ba bước.

Bước 1: Xác định phong cách tác giả (qua bài nghiên cứu, kiến thức tác giả, sự nghiệp hoặc sự hướng dẫn định hướng của GV).

Bước 2: Chỉ ra, làm rõ các biểu hiện phong cách qua việc khảo cứu văn bản.

Bước 3: Cảm nhận, hiểu, khám phá, phát hiện tạo lập giá trị nội dung ý nghĩa và nét riêng đặc sắc của tác phẩm trên các biểu hiện của phong cách.

Ví dụ: Tiếp cận Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân từ phong cách tác giả. Chúng tôi rèn kĩ năng cho HS thông qua việc hướng dẫn các em lập bảng hệ thống sau:

Biểu hiện phong cách Biểu hiện trong tác phẩm
Cái tôi xê dịch Hoàn cảnh. Điểm nhìn theo thời gian và không gian miêu tả cao thấp, xa gần, trữ tình hung bạo về dòng sông Đà.
Cảm hứng với những cái mãnh liệt Sông Đà hung bạoCuộc chiến sinh tử vượt thác vượt ghềnh.
Khám phá sự vật hiện tượng ở phương diện văn hóa thẩm mĩ. Hình tượng sông Đà.
Khám phá con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ. Hình tượng ông lái đò.
Tài hoa uyên bác  Từ ngữ, các phương diện kiến thức để biểu đạt hình tượng, các biện pháp, thủ pháp biểu đạt.

2.2. Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm từ góc nhìn văn hoá

Tiếp nhận văn bản từ mã văn hóa là chúng tôi đặt tác phẩm trong mối quan hệ lịch đại (bổ sung cho nghiên cứu đồng đại) tức là tìm ra nguồn gốc nảy sinh (bối cảnh và thời đại) hoặc nghiên cứu sự ảnh hưởng nội dung tư tưởng trong tác phẩm theo thời gian với các hệ tư tưởng, ý thức xã hội triết học, tôn giáo … và được đặt trong mối quan hệ chủ đạo với chủ thể sáng tạo. Với cái nhìn lịch đại này đòi hỏi chúng tôi phải sử dụng yếu tố liên văn bản như là cách tiếp cận song song bổ sung làm cở sở tiền đề với tiếp cận văn hóa học để vấn đề nghiên cứu trở nên thấu đáo rõ ràng.

Vì sao chúng ta lại lựa chọn con đường tiếp cận này. Bời vì văn học là gương mặt quan trọng của văn hóa. Mỗi một văn bản dù ít hay nhiều đề phải chứa đựng một mã văn hóa nào đó. Thứ hai là chính chủ thể người viết bao giờ cũng là một thành viên, sản phẩm của một nền văn hóa xác định. Và tất yếu văn bản, họ tạo ra sẽ mang văn hóa của họ không chỉ từ nội dung tư tưởng mà đến từng phương diện nhỏ của ngôn ngữ chữ viết, cách biểu đạt. Cách tiếp nhận này không mới nhưng khó, vì muốn làm được điều đó chúng ta phải hiểu và nắm được khái quát, sâu sắc những tư tưởng triết học, những mã văn hóa đã trở thành cội gốc cho văn học phát triển.

Chúng tôi sử dụng con đường tiếp cận này cho đọc hiểu văn học cổ. Đối với văn học cổ thì đây là cách tiếp cận đúng hướng hiệu quả và hấp dẫn. Vì văn học cổ ra đời trong thời kì mà “Văn sử triết bất phân” và hơn nữa mỗi một nhà sáng tác của văn học trung đại đều là một môn đồ của một hệ tư tưởng triết học, hệ tư tưởng của một tôn giáo nào đó hay chí ít cũng bị ảnh hưởng nhất định các dấu ấn của những tư tưởng đó trong cuộc đời. Chúng tôi sẽ đưa ra cách tiếp cận văn bản văn học giai đoạn này trên đặc trưng văn hóa nảy sinh. Tức là chúng tôi sẽ đặt văn bản đó trong không gian văn hóa chúng được ra đời cũng như văn hóa, tư tưởng chủ đạo và phong cách của người cầm bút sáng tạo ra chúng.

Để đọc hiểu tác phẩm từ góc nhìn văn hóa chúng tôi tiến hành theo ba bước sau:

Bước 1: Xác định thời đại tác giả sống, tác phẩm ra đời để xác định bối cảnh văn hóa mã văn hóa thời đại, hệ tư tưởng, biểu tượng văn hóa, nghi lễ văn hóa.

Bước 2: Phát hiện các yếu tố trong văn bản có chứa mã văn hóa (các tín hiệu văn hóa có thể là một hình ảnh, một chi tiết, một điển tích điển cố nào đó vừa dẫn dắt chúng ta dến nội dung cụ thể và vừa đến với quan niệm chiều sâu tư tưởng), các yếu tố liên văn bản, các điển tích điển cố qua việc khảo cứu văn bản, kết hợp với các liên văn bản để tiếp cận văn bản.

Bước 3: Cảm nhận, hiểu, khám phá, phát hiện tạo lập giá trị nội dung ý nghĩa qua mã văn hóa, góc nhìn văn hóa.

Ví dụ Tiếp cận văn bản Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm từ góc độ văn hóa. Chúng tôi chọn cách hướng dẫn HS đọc hiểu tác phẩm theo con đường tiếp cận này bởi vì:

Thứ nhất, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà văn hóa lớn. Hệ tư tưởng của ông chịu ảnh hưởng tư tưởng triết học, tôn giáo, đạo đức của Nho – Phật – Đạo đặc biệt là Đạo gia.

Thứ hai, thời đại tác giả sống có biến động lớn Lê Trịnh Mạc Nguyễn cát cứ phân tranh. Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự xuất xử linh hoạt với thời thế, đã bỏ qua tới 9 kỳ đại khoa (trong đó có 6 khoa thi dưới triều Lê) để mà ẩn dật, xuất thế. Ngay cả khi nhà Mạc lên thay nhà Lê sơ (1527), xã hội dần đi vào ổn định nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng không vội vã ra ứng thí (ông không tham dự 2 khoa thi đầu tiên dưới triều Mạc). Tới năm Đại Chính thứ sáu (1535) đời Mạc Đăng Doanh thịnh trị nhất triều Mạc, ông mới quyết định đi thi và đậu ngay Trạng nguyên.

Thứ baNhàn là tác phẩm trung đại các đặc trưng hình thức nghệ thuật văn học trung đại (quy phạm, nói chí tải đạo).

Chúng tôi hướng dẫn HS đọc hiểu tác phẩm này trên các mã văn hóa với bốn phạm trù quan trọng: Lánh, phản phục, vô vi thuận thiên và trọng sống khinh vật. Cụ thể như sau:

Kết cấu Hình thức biểu đạt Mã văn hóa
Hai câu đề Liệt kê: mai cuốc, cần câu.Số từ: một (3 lần)

Từ láy: thơ thẩn.

Trạng thái chủ thể: dầu ai, vui thú nào.

Lánh đời ẩn dật là một thái độ ứng xử của các nhà nho, các bậc hiền triết với thời thế, lựa chọn cách sống, giá trị sống khi tìm đến nơi sơn thâm cùng cốc, gần gũi với thiên nhiên để dưỡng thân, dưỡng trí, dưỡng đạo đạt niềm vui cảnh giới thiên địa.
Hai câu thực Đối lập: Ta – NgườiTừ trái nghĩa:

dại><khôn.

vắng vẻ><lao xao

Quy luật Phản phụcPhản phục là sự vận động biến đổi nhằm đạt đến sự hài hòa cân bằng tự nhiên. Nhà thơ chọn một thái cực, một khía cạnh trái chiều để tự nhiên, quy luật tất yếu của cuộc sống sẽ bù lấp đầy thái cực khía cạnh còn lại: Dại mà khôn, vắng vẻ mà bình yên.
Hai câu luận Thời gian: Xuân, Hạ, Thu, Đông.Thiên nhiên: măng trúc, giá, hồ sen, ao.

Sinh hoạt con người: tắm hồ sen, tắm ao, ăn măng trúc, ăn giá.

Vô vi thuận thiên. Không đi trái với tự nhiên, gần và sống hòa hợp cùng tự nhiên. Quy luật sinh trưởng biến đổi phù hợp theo quy luật thời gian của vũ trụ.Sự sống hài hòa no đủ an nhàn, niềm vui trong mối quan hệ với tự nhiên và biến đổi thời gian.
Hai câu kết Điển tích: Thuần Vu Phần.Thái độ với danh và lợi: tựa chiêm bao. Trọng sống khinh vậtThái độ xem nhẹ danh lợi. Chiến thắng phần bên trong chính mình tạo nên vẻ đẹp nhân cách.

3.3. Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm từ đặc trưng thể loại

Mỗi một văn bản bao giờ cũng thuộc về thể loại nhất định và thông qua các biểu hiện của cái biểu đạt của thể loại chúng ta mới tìm được cái được biểu đạt bên trong. Vì thế con đường tiếp theo chúng tôi rèn cho HS đọc hiểu tác phẩm văn học là từ đặc trưng thể loại.

Đọc hiểu tác phẩm từ đặc trưng thể loại là chúng tôi đặt tác phẩm trong mối quan hệ đồng đại tức là nghiên cứu văn bản tác phẩm – một chỉnh thể mang tính hệ thống tương đối độc lập – đặt trong mối quan hệ tĩnh tại của các yếu tố nội tại bên trong hệ thống của chính văn bản đó. Với cái nhìn đồng đại này đòi hỏi chúng tôi phải sử dụng yếu tố cái biểu đạt với các cấp độ của ngôn ngữ để tìm ra và tiếp cận cái được biểu đạt của chúng, để vấn đề nghiên cứu trở nên thấu đáo rõ ràng. Đọc hiểu tác phẩm từ đặc trưng thể loại là việc dẫn dắt học sinh khám phá, phát hiện, phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật theo đặc trưng thi pháp thể loại để rút ra nội dung, ý nghĩa thẩm mĩ của nó. Đây là một trong những phương pháp tiếp cận đồng đại – tiếp cận trên chính văn bản, bổ sung hữu ích cho cách tiếp cận lịch đại (từ góc nhìn văn hóa mà chúng tôi đã nêu) – chú trọng tới các yếu tố bên ngoài tác phẩm nhiều hơn như tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội. Đọc hiểu tác phẩm theo đặc trưng thi pháp thể loại là cách thức con đường phương pháp quan trọng phổ biến, có hiệu quả cao trong đọc hiểu TP.

Để đọc hiểu tác phẩm từ đặc trưng thể loại, chúng tôi hướng dẫn HS tiến hành theo ba bước sau:

Bước 1: Xác định chính xác thể loại và các đặc trưng cơ bản của thể loại.

Bước 2: Tiếp cận giải mã văn bản qua các đặc trưng của thể loại (khảo cứu văn bản).

Bước 3: Cảm nhận, hiểu, khám phá, phát hiện tạo lập giá trị nội dung ý nghĩa qua các đặc trưng thể loại.

Ví dụTiếp cận Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh từ đặc trưng thể loại.

– Xác định thể loại: Tiểu thuyết (sau 1975).

– Đặc trưng: Sự kiện và cốt truyện, nhân vật, ngôi kể và điểm trần thuật, kĩ thuật/cách trần thuật, chi tiết …

Chúng tôi cho HS tiếp cận qua hệ thống bảng, phiếu đọc hiểu như sau:

Đặc trưng thể loại Biểu hiện trong văn bản
Sự kiện và cốt truyện. Sự kiện phân mảnh vỡ vụn đan cài về chiến tranh tình yêu và sáng tạo nghệ thuật. Các sự kiện đã tạo nên cốt truyện đa tầng.Mạch truyện về hành trình sáng tạo nghệ thuật của Kiên đan cài câu chuyện tình yêu.

Mạch truyện về nỗi buồn chiến tranh của người kể chuyện và trong hồi ức của Kiên.

Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật. Các sự kiện, mạch truyện tạo nên đa điểm nhìn trần thuật, đa giọng điệu, đa thanh.Câu chuyện của Kiên: Ngôi kể thứ nhất – Kiên, nhân vật trong chuyện, điểm nhìn bên trong.

Câu chuyện về chiến tranh: Ngôi kể thứ ba, người kể chuyện vắng mặt, điểm nhìn bên ngoài.

Nhân vật Kiên – Nhân vật trung tâm, nhân vật trải nghiệm, chấn thương, lạc lõng, hồi ức tâm tưởng, sáng tạo …
Cách trần thuật Kĩ thuật dòng ý thức.Đan xen đảo lộn không gian và thời gian. Thời gian sự kiện 25 năm, nhiều không gian. Mở đầu là 1976, tại truông Gọi Hồn, đoàn người đi thu nhặt hài cốt; tiếp đến là sự kiện xoay quanh năm 1980, 1985; rồi thay đổi về 1965 trong chiến tranh; tiếp tục lại là 1980.

Độc bạch nội tâm xoay quanh hồi ức đan xen, chắp nối của dòng tâm trạng, suy tư, nội tâm của Kiên.

 Cảm nhận, hiểu, khám phá, phát hiện tạo lập giá trị nội dung ý nghĩa qua các đặc trưng thể loại:

Vượt lên trên cốt truyện truyền thống (hành động dựa trên sự kiện và xung đột), bằng lối trần thuật phức hợp dựa trên “dòng ý thức” Nỗi buồn chiến tranh, là một nhận thức khác, mới hơn về chiến tranh – bản tụng ca đẹp đẽ đầy ám ảnh về sự trong trắng bị mất đi trong dòng xoáy chiến tranh. Chiến thắng và vinh quang của cuộc chiến được soi chiếu ở góc nhìn mới của những nỗi đau, sự hủy diệt đặc biệt là những chấn thương tâm lí. Những mất mát và đau thương mà con người phải chịu đựng đều được hòa quyện giữa thân phận/nỗi buồn cá nhân/tình yêu và cộng đồng/chiến tranh, hiện hình qua dòng tâm tư khủng khiếp của người tham chiến để làm phục sinh lại quá khứ “sống ngược trở lại con đường của mối tình xưa, chiến đấu lại cuộc chiến đấu”, “làm sống lại những linh hồn đã mai một, những tình yêu đã phai tàn, bừng sáng lại những giấc mộng”. Và đó cũng là “con đường cứu rỗi” (con đường sáng tạo nghệ thuật) cho Kiên để anh nói lên tiếng nói cảnh báo về chiến tranh bên cạnh ca ngợi những con người anh hùng đã làm nên sức mạnh, khát vọng cho cả một dân tộc trong chiến tranh.

3.4. Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm từ đặc trưng khuynh hướng văn học

Khuynh hướng văn học là một hiện tượng có tính chất lịch sử. Đó là một phong trào sáng tác tập hợp những tác giả, tác phẩm gần gũi với nhau về cảm hứng, tư tưởng, nguyên tắc miêu tả hiện thực, tạo thành một “dòng sông lớn” có bề thế trong đời sống văn học của một dân tộc hoặc một thời đại.

Mỗi khuynh hướng văn học được nảy sinh trên một hoàn cảnh lịch sử và có cơ sở triết học nhất định, đóng góp cho nền văn học nhân loại những tên tuổi tác giả ưu tú cùng những tác phẩm tiêu biểu. Mỗi một tác giả, trong mối quan hệ với thời đại lịch sử, văn học, cá tính, kiểu tư duy, cảm xúc cá nhân có thể chủ động hoặc là bị động ảnh hưởng khuynh hướng sáng tác nhất định. Trong tiến trình văn học đã xuất hiện nhiều khuynh hướng, trào lưu văn học nghệ thuật như cổ điển, lãng mạn, hiện thực, hiện sinh … Những khuynh hướng này trong mối quan hệ giao lưu tiếp biến cũng đã tác động không nhỏ đến các tác giả văn học Việt Nam. Chính vì thế, một con đường tiếp cận tiếp theo chúng tôi muốn hướng dẫn HS đọc hiểu tác phẩm đó là từ các đặc trưng của khuynh hướng sáng tác.

Để đọc hiểu tác phẩm từ đặc trưng thể loại chúng tôi tiến hành theo ba bước sau:

Bước 1: Xác định chính xác khuynh hướng của văn bản và các đặc trưng cơ bản, quy tắc cơ bản gắn liền với khuynh hướng đó.

Bước 2: Tiếp cận giải mã văn bản qua các đặc trưng của khuynh hướng bằng việc khảo cứu văn bản.

Bước 3: Cảm nhận, hiểu, khám phá, phát hiện tạo lập giá trị nội dung ý nghĩa qua các đặc trưng khuynh hướng.

Ví dụĐọc hiểu Những người khốn khổ của V. Hugo theo khuynh hướng lãng mạn.

– Xác định khuynh hướng: lãng mạn.

– Đặc trưng:

+ Đề tài là những vấn đề lớn, mang tính xã hội;

+ Nhân vật là con người dưới đáy xã hội, không phải là cá nhân hài hòa với cộng đồng, mà là những con người cô đơn đứng bên trên con người, đứng ngoài xã hội như để ban phát tình thương, hoặc “nổi loạn” chống đối với thực tại đang sống;

+ Thủ pháp nghệ thuật như tương phản đối lập, trữ tình ngoại đề…

Khảo sát và giải mã qua đọc hiểu tác phẩm.

Đề tài tình thương và bạo lực cách mạng. Tình thương là đề tài, nguyên tắc thẫm mĩ cơ bản nhất để nhà văn thể hiện sâu sắc tư tưởng của tác phẩm. Jean Valjean, nhân vật trung tâm của tiểu thuyết xuất thân từ tầng lớp người nghèo, những người dưới đáy xã hội. Vì tình yêu thương mà mắc sai lầm và cũng chính tình yêu thương (được cảm hóa bởi giám mục Myriel) ông trở thành một thị trưởng giàu lòng nhân ái với cái tên Madelein – con người sau này cả đời sống bằng vẻ đẹp của tình yêu thương. Đó là hành trình đấu tranh của con người đi từ bóng tối ra ánh sáng, là con đường hướng thiện của Jean. Đối với đề tài cách mạng cách mạng ông thể hiện niềm tự hào và niềm tin vào nhân dân – sức mạnh của ngày mai. Cách mạng sẽ giải phóng con người ra khỏi cuộc sống phi nhân bản của xã hội tư sản, mang đến xã hội lý tưởng mà trong đó tình thương sẽ là nguyên tắc cao nhất. Bên cạnh yêu thương những người cùng khổ, Hugo còn dành những tình cảm tốt đẹp cho các chiến sĩ cộng hòa.

Mô típ quen thuộc của truyện cổ tích. Những mô típ mà chủ nghĩa lãng mạn thường sử dụng. Đó là mô típ cô bé mồ côi trở thành hoàng hậu – nhân vật Cosette. Cosette mồ côi với tuổi thơ đầy bất hạnh, và Jean Valjean như là ông bụt hiền từ bảo vệ chở che đưa cô bé đến bến bờ hạnh phúc. Và mô típ thiện thắng ác qua cuộc đấu tranh không ngừng của cái thiện đối với cái ác – nhân vật Jean Valjean. Chỉ khi đến phần cuối của tiểu thuyết Jean mới thực sự là một Jean Valjean trọn vẹn. Qua đó, làm nổi bật lên hành trình tìm đến con đường hướng thiện của Jean. Đồng thời, đó cũng là con đường mà tác giả muốn vạch ra cho nhân loại tiến bộ.

Nhân vật

Myrielnhân vật được tác giả giao phó nhiệm vụ thắp sáng ngọn nến tâm hồn và vẻ đẹp tình yêu thương cho Jean Valjean, con người biểu thị “tình yêu đồng loại ở ý nghĩa thuần túy nhất của kinh Phúc âm”.

Jean Valjean. Nhân vật Jean Valjean là nhân vật mẫu mực của bút pháp lãng mạn. Một nhân vật tì vết – người tù khổ sai vì ăn cắp bánh mì cho lũ cháu đói, đã đấu tranh không ngừng để đi từ bóng tối của tội ác ra ánh sáng lòng lương thiện, là biểu tượng sáng ngời cho vẻ đẹp con người. Một nhân vật đội lốt – kiểu nhân vật cổ tích, để mang trong mình hai vai trò vừa là người tù khổ sai vừa là một vị thánh, ca lên khúc hát của tình yêu thương.

Miêu tả, kể chuyện và bình luận. Dưới ngòi bút lãng mạn của Hugo, cảnh trí thiên nhiên hiện lên đầy sức quyến rũ. Cách miêu tả thiên nhiên thể hiện sự giao hòa với con người phản chiếu tâm hồn con người – nét đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn. Nhân vật đứng ngoài xã hội, bên trên cuộc đời song lại hòa hợp với thiên nhiên. Con người được miêu tả với bút pháp phóng đại cường điệu làm nổi bật lên vẻ đẹp phi thường vượt lên trên hoàn cảnh. Xen kẽ với những trang miêu tả, kể chuyện, Hugo chen vào đó là những đoạn văn bình luận sắc sảo thể hiện quan điểm của nhà văn về các vấn đề xã hội. Không những là những trang miêu tả, kể chuyện, bình luận riêng lẻ mà đôi khi tác giả kết hợp chúng lại.

Bút pháp tiêu biểu cho nghệ thuật tự sự của Huygo là ở bút pháp tương phản. sự tương phản toát lên từ nhân vật. Không chỉ có thế mà tác giả còn tạo nên sự tương phản của tình thế, của hoàn cảnh.

Bằng việc điểm qua một vài bút pháp nghệ thuật đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn, ta thấy được ở Hugo một tài năng văn học đặc sắc với lối văn miêu tả, kể chuyện đầy chất thơ. Tất cả những yếu tố đó đã làm nên tính lãng mạn cho tác phẩm của ông.

3.5. Rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm bằng cách cho người đọc nhập vai/sáng tạo

Đọc hiểu tác phẩm văn học là một hoạt động tích cực. Tùy vào tri thức, kinh nghiệm sống của mỗi người mà việc lý giải có thể sâu sắc, cũng có thể hời hợt, phiến diện. Tác phẩm văn học khi mới đến tay người đọc tự bản thân nó mang những ý tưởng mà tác giả thể hiện. Thế nhưng, khi người đọc bắt đầu can thiệp vào tác phẩm bằng những suy nghĩ cá nhân thì tác phẩm luôn mở ra những ý nghĩa mới. Người đọc có thể phát hiện ra những tầng bậc ý nghĩa mà ngay cả tác giả cũng sẽ bất ngờ. Tuy nhiên tác phẩm luôn có giá trị tự thân của nó, người đọc phải cảm thụ khách quan và tôn trọng.

Vì thế chúng tôi hướng dẫn HS đọc hiểu tác phẩm bằng cách cho người đọc nhập vai/sáng tạo. Con đường này bổ sung cho cách tiếp cận đọc hiểu lịch đại, đồng đại (đã làm sáng rõ ở trên) ở phương diện chủ thể tiếp nhận, ở khả năng vận dụng thực tiễn, đưa tác phẩm vào đời sống xa hội. Người đọc cần phát huy tính chủ động và tích cực trong đọc hiểu văn bản trên góc nhìn của văn bản/ý đồ sáng tao/nội dung ý nghĩa phản ánh/cảm hứng sáng tạo – đóng, tĩnh, cố định và trên dấu ấn chủ quan của quan điểm/vận dụng/cá tính/con người mình – mở, động, để phát hiện hoàn thiện khám phá tác phẩm.

Người đọc có thể:

– Nhập vai (người kể, tác giả, nhân vật, …);

– Tổ chức sắp xếp lại trật tự kết cấu cấu trúc văn bản (thêm vào bớt đi, tỉnh lược, bổ sung);

– Giả định tình huống mới, hoàn cảnh mới (vận dụng, phản biện, phản tỉnh, hoài nghi…);

– So sánh văn bản và tác giả trong hệ thống có tiêu chí rõ ràng để thấy cái riêng – chung; mới – cũ; so sánh hai văn bản khác tác giả cùng đề tài; so sánh hai bản dịch…

(Chúng tôi sẽ minh hoạ cách thức tiếp cận này ở bước 3 sau đây)

  1. Bước 3 (Sau khi đọc): Rèn kĩ năng đọc hiểu TPNCT qua việc tổ chức cho HS trình bày/trao đổi về kết quả đọc hiểu

3.1. Các sản phẩm của HS là gì?

– Các hồ sơ thông tin về tác phẩm (để trao đổi)

– Các bài chuẩn bị dưới dạng dàn ý theo gợi ý của GV (để thảo luận)

– Các bài viết hoàn chỉnh (để hội thảo và đưa vào kỉ yếu)

3.2. Vì sao phải tổ chức cho HS trình bày/trao đổi sản phẩm?

Việc tổ chức cho HS trình bày, trao đổi kiến thức, kĩ năng môn học là công việc thường xuyên của người đứng lớp. Tuy nhiên, với việc rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình cho HS chuyên thì việc tổ chức này, theo chúng tôi, không thể không làm vì những lí do sau:

Thứ nhất, chúng tôi quan niệm, đây là một khâu/một công đoạn mang tính tất yếu của một quá trình thực nghiệm, về bất cứ vấn đề gì.

Thứ hai, đây là khâu kiểm chứng lý thuyết, kiểm tra việc hành sau khi học của HS. Từ đó, GV có điều kiện điều chỉnh, bổ sung, rút kinh nghiệm việc dạy kĩ năng.

Thứ ba, đây là dịp để HS tự bộc lộ khả năng cũng như tinh thần, thái độ trong việc tự học. Tất cả những điều đó thể hiện cụ thể, sinh động qua chính sản phẩm của các em. Khi được thể hiện kết quả làm việc, những sản phẩm tốt có ý nghĩa động viên, khích lệ, kích thích hứng thú, khơi gợi niềm say mê cho những người khác. Ngược lại, những sản phẩm chưa tốt cũng là cơ hội cho những người khác rút kinh nghiệm, nỗ lực vươn lên. Tóm lại, đây là một trong những cách giúp cho HS học tập lẫn nhau, thậm chí, GV cũng học tập được rất nhiều từ các em ở chính hoạt động này.

3.3. Cách tiến hành

3.3.1.Tổ chức cho HS trao đổi, bổ sung, học tập nhau từ việc lập hồ sơ thông tin tác phẩm.

Sau khi HS đã xác lập được hồ sơ thông tin về tác phẩm (Kết quả của Bước 1 nêu trên), GV có thể làm như sau:

Bước 1: Cho HS/nhóm HS trao đổi hồ sơ thông tin cho nhau. Yêu cầu đọc kĩ, nhận xét (thông tin chính xác chưa? thừa ở đâu, vì sao? thiếu chỗ nào? Vì sao?…). Yêu cầu HS dùng bút đỏ ghi cho rõ.

Bước 2: Cho HS trình bày, thảo luận trên cơ sở những nội dung trên, từ đó rút ra kết luận về kĩ năng lập hồ sơ thông tin tác phẩm.

Ví dụTổ chức cho HS trao đổi một hồ sơ thông tin về Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ

Đoàn Phú Tứ là cây bút nòng cốt của nhóm Xuân Thu nhã tập. Nhóm Xuân Thu nhã tập đã đưa ra khái niệm phổ quát về cái đẹp và những luận điểm về bản chất của thi ca. Đồng thời họ cũng là những người đi đầu dẫn dòng mạch tượng trưng, siêu thực của thế kỉ XX vào thơ ca Việt.

Đoàn Phú Tứ viết thơ không nhiều chỉ “dăm bảy bài” nhưng hầu hết đều được đánh giá cao và có sức sống lâu bền trong lòng bạn đọc. Trong đó không thể không kể đến bài thơ Màu thời gian đã gắn liền với tên tuổi của nhà thơ.

Xuất hiện lần đầu tiên trên báo Ngày nay (1940) bài thơ được đón nhận nồng nhiệt, tốn không ít giấy mực của các nhà nghiên cứu. Thời gian trôi qua bài thơ vẫn luôn được được đánh giá cao và còn được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc. Góp phần không nhỏ cho sự “kín đáo và tinh tế” mà Hoài Thanh đã từng khen ngợi là nhờ dấu ấn riêng biệt, cái hồn tươi mới trong thơ tượng trưng.

Sau khi trao đổi, HS có những nhận xét như sau:

– Thông tin về tác giả: còn chung chung, chưa thấy mối quan hệ với tác phẩm.

– Thông tin về hoàn cảnh ra đời: ngoài con số thời gian, chưa có thông tin gì về TP.

– Thông tin về khuynh hướng sáng tác: chưa rõ

– Thông tin về hình tượng trung tâm: chưa có.

Từ đó, HS bổ sung, thống nhất như sau:

– Thông tin tác giả: Đoàn Phú Tứ (vị trí: cây bút nòng cốt của nhóm Xuân Thu nhã tập, chủ trương sáng tác theo khuynh hướng tượng trưng, siêu thực; phong cách: viết ít, một lối thơ tinh tế và kín đáo nên có thể đọc thơ mình trước mọi người mà không sợ ngượng – Hoài Thanh => Màu thời gian được đánh giá là “Trong thơ ta có lẽ không có bài nào khác tinh tế và kín đáo như thế” – Hoài Thanh)

– Thông tin về hoàn cảnh ra đời: Màu thời gian ra đời 1940 – thời kì thơ mới ảnh hưởng sâu đậm khuynh hướng tượng trưng, siêu thực.

– Thông tin về khuynh hướng thơ tượng trưng: Bài thơ chịu ảnh hưởng thơ tượng trưng Pháp. Chủ nghĩa tượng trưng xem thơ như một thứ siêu cảm giác, không giải thích được (Malacme). Thơ phải hướng tới một thế giới huyền diệu và nhiệm màu, phải khám phá và thể hiện được những gì nằm ẩn sâu dưới cái vỏ hiện thực và đem lại cho thế giới tâm hồn một sức mạnh đặc biệt. Cho nên, nhà thơ phải đến với cuộc sống bằng trực giác vì chỉ có trực giác mới tìm ra cái bí ẩn nằm sau thế giới hữu hình, mới nhìn thấy thế giới đích thực là cái thế giới không nhìn thấy ấy (Khác với tính lý trí trong thơ cổ điển, cảm xúc trong thơ lãng mạn). Thế giới không phải là những cái quan sát được bằng thị giác, thính giác, hay vị giác… mà là phần linh diệu và huyền nhiệm mà con người nắm bắt được bằng sự tương hợp của tất cả các giác quan. Thơ lãng mạn chủ yếu biểu hiện bằng hình tượng, hình ảnh tương phản thì thơ tượng trưng biểu hiện mối quan hệ giữa con người và sự vật trong mối tương hợp. Thơ phải gắn chặt với âm nhạc, phải gợi chứ không vẽ các đường nét, hình thể (Verlaine). Nghĩa là thơ không cần có hình tượng rõ nét, và được quan niệm như một bản hoà âm huyền ảo. Mỗi từ trong thơ phải gắn liền với một nốt nhạc. Âm nhạc trên hết, âm nhạc phải đi trước một bước. Âm nhạc nữa và âm nhạc mãi (Veclen). Đó là cơ sở quan trọng để tiếp cận thi phẩm này.

– Thông tin về hình tượng trung tâm: màu thời gian (chú ý liên hệ với hình tượng thời gian trong VHDG, VH Trung đại).

Kết luận: lập hồ sơ thông tin về tác phẩm phải đảm bảo nguyên tắc đầy đủ, cụ thể, rõ ràng, có mối liên hệ chặt chẽ với tác phẩm để giúp ta khám phá tác phẩm đó.

3.3.2. Tổ chức cho HS thảo luận và trình bày sản phẩm

– Thảo luận về cách đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình từ góc nhìn văn hoá

Ví dụ: Tổ chức cho HS thảo luận về văn hoá cổ truyền trong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, GV gợi ý cho HS tìm hiểu, viết bài và thảo luận theo nội dung sau:

+ Vì sao Nguyễn Tuân có hứng thú đặc biệt với đề tài văn hoá?

+ Các đề tài văn hoá trong VBMT (Văn hoá thưởng trà; Văn hoá thưởng hoa; Văn hoá lễ tết: Tết Trung thu, Tết cổ truyền; Văn hoá giải trí, giải sầu…)

+ Văn hoá giúp anh/chị hiểu gì về tác giả, tác phẩm?

Sau đây là một minh hoạ: Văn hoá thưởng trà trong Những chiếc ấm đất

Trà là thức uống rất đỗi quen thuộc trong đời sống, được chế biến từ búp và lá của cây chè. Tùy vào từng loại chè và cách chế biến mà cho những loại trà có giá trị khác nhau. Thiên hạ ví hoa với mỹ nhân đã nhiều, ông Tú làng Vị Xuyên lại ví trà với mỹ nhân. Mỹ nhân hơn trà ở chỗ biết nói, trà hơn mỹ nhân chỗ tỏa hương, ngọt giọng, mềm môi, lắng đọng lòng người,… thật khó mà phân định nặng nhẹ nhưng đều giống nhau ở điểm được nâng niu, trân trọng, ngợi ca,… Văn hóa trà ngoài các loại trà còn bao gồm cách thức pha trà, thưởng trà và ý nghĩa của việc dùng trà.

Đạo trà Việt truyền thống không mang vẻ cầu kì như Trà đạo Nhật Bản, không phức tạp như nghệ thuật Trà Kinh của Trung Quốc và cũng không thực dụng như trà phương Tây, nó giản dị, đơn sơ mà vô cùng thanh tịnh. Truyện ngắn kể về nhân vật am hiểu, say mê nghệ thuật thưởng trà. Họ đều là những bậc phong lưu, những khách lãng tử bên mình túi thơ, tìm đến bên chén trà để tĩnh tâm, để ngâm nga ý tình của đôi câu cổ thi. Họ coi thưởng trà như một thứ bình sinh thanh tao, xua tan lớp bụi trần đang phủ mờ năm tháng.

“Những chiếc ấm đất” có thể coi là bài thơ về thú uống trà của người Việt. Những nét đẹp của nghệ thuật thưởng trà đều được chắt lọc, đưa vào một cách độc đáo, tài hoa. Nhân vật chính của câu chuyện thực chất không phải là cụ Sáu mà lại chính là cái thú thưởng trà hiếm thấy của cụ. Phá gần hết cơ nghiệp ông cha để lại, cụ coi “Cai phú quý nhãn tiền không bằng một ấm trà tàu”. Đôi câu đối được viết trên hai mảnh giấy hồng điều, đề ngoài cổng chính là tuyên ngôn đầy kiêu hãnh về thú thưởng trà của cụ:

“Họ lịch sự như tiên, phú quý như giời, quất con ngựa rong chơi ngoài ngõ liễu

Ta trồng cỏ đầy vườn, vài hoa đầy đất, gọi hề đồng pha nước trước hiên mai”.

Đối với việc thưởng trà, dân ta có quan niệm: “Nhất thủy, nhì trà, tam pha, tứ ấm” tức là để có một ấm trà ngon cần có yếu tố quan trọng nhất là nước pha, sau đó là loại trà, rồi tới tách pha trà và cuối cùng là loại ấm dùng pha trà. Ngay từ mở đầu câu chuyện, Nguyễn Tuân đã đề cập tới nước pha trà. Theo truyền thống, nước pha trà phải là nước tinh khiết: nước mưa hứng giữa trời, nước sương sớm đọng trên lá sen hoặc phải là “ Sơn thủy thượng, giang thủy trung, tỉnh thủy hạ” có nghĩa là nước đầu nguồn, giữa sông, giữa lòng giếng mới đáp ứng được yêu cầu khắt khe ấy. Cụ Sáu trong truyện chỉ uống trà được pha bằng nước lấy từ giếng chùa Đồi Mai. Ông đã thề với sư cụ rằng: “Giếng chùa mà cạn thì tôi sẽ cho không người nào muốn xin bộ đồ trà rất quý của tôi”. Đối với cụ Sáu, chỉ có nước giếng chùa Đồi Mài mới “ pha trà không bao giờ làm lạc mất hương vị”. Cụ không đi đâu được cũng là bởi không có giếng nước chùa Đồi Mài để pha trà uống. Dù đường xa, nắng gắt, cụ Sáu cũng không lấy làm phiền, cho người nhà gánh được một nồi nước mát về pha trà. Thế mới thấy được sự kĩ lưỡng, cầu kì của kì công thưởng trà.

Yếu tố thứ hai làm nên một ấm trà ngon là loại trà được sử dụng. Trong truyện, Nguyễn Tuân nhắc tới trà Vũ Di Sơn, Bạch Mao Hầu, Trảm Mã và trà mạn. Trà Trảm Mã là loại trà được Từ Hy Thái Hậu chọn thiết đãi sứ thần liệt quốc vào năm 1847. Núi Vũ Di thuộc tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc là địa danh nổi tiếng về trà Ô Long. Trà Bạch Mao Hầu cũng là đặc sản huyền thoại của núi Vũ Di: trà được moi từ hai bên má của loài vượn long trắng. Còn Trà Mạn là tên gọi chung của các loại trà miền ngược xuất phát từ một địa danh ở tỉnh Vân Nam. Đây đều là những loại “thượng đẳng danh trà” chỉ dành cho tầng lớp quý tộc, những hạng phong lưu khá giả hay những người biết thưởng thức như cụ Sáu.

Để pha được một ấm trà có đủ sắc, hương, vị là cả một nghệ thuật. Cụ Sáu của Nguyễn dường như đã trở thành một nghệ nhân tinh thông nghệ thuật pha trà cổ điển. Trà kinh của Vũ Lục có dạy: Nước là “ trà hữu”, lửa là “ trà sư”. Muốn pha được trà ngon cần phải có nước tốt và lửa đúng cũng như muốn nên người thì phải có bạn hiền và thầy giỏi. Nước pha trà thường được đun trong ấm đồng có kim hỏa để mau sôi. Kim hỏa là “ cái nấu sùi sùi” trong lòng ấm, nhiều nhất và chuẩn nhất là có nàm kin như ấm của cụ Sáu. Độ sôi của nước là rất quan trọng. Chưa đủ độ nóng thì không chiết hết được tinh trà mà quá nóng thì sẽ làm trà cháy và bay mất mùi vị. Người xưa nhận ra độ sôi của nước bằng cách nghe tiếng reo: nước sủi tăm như mắt cua là “ Giải nhãn” (nước sôi vừa), nước sủi tăm bằng mắt cá là “Ngư nhãn” (nước sôi già). Bếp đun nước cũng phải là bếp chuyên dụng. Người Trung Quốc dùng than từ quả ôliu còn người Việt dùng than làm từ quả ổi xanh hầm để nấu nước pha trà. Có vậy than mới chắc, đượm và ít khói. Bỏ than đủ một tuần trà hay một buổi thưởng trà cũng là cả một nghệ thuật đòi hỏi kinh nghiệm và sự chính xác. Qủa thật không phải ai cũng pha được trà và không phải trong một sớm một chiều mà một người pha được một ấm trà ngon. Cụ Sáu thật xứng danh là một nghệ nhân trà Việt.

Là người sành uống trà, chắc ai cũng từng nghe nói:

“ Thứ nhất Thế Đức gan gà

Thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”

Thế Đức, Lưu Bội, Mạnh Thần là ba dòng ấm ở Nghi Hưng, Giang Châu, Trung Quốc xuất hiện trong câu nói của vị khách tới chơi nhà cụ Sáu. Ấm Thế Đức màu gan gà nâu đỏ đậm. Ấm Lưu Bội màu gan heo đen nhạt. Còn ấm Mạnh Thần có màu da nai. Chúng được làm từ loại đất sét chứa sắt, tùy vào hàm lượng sắt mà có màu khác nhau và được gọi chúng là Tử sa. Nghệ thuật ấm Tử sa là một trong bốn quốc bảo của Trung Hoa bên cạnh kinh kịch, quốc họa thủy mặc và lụa Tô Châu. Hình dáng ấm được mô phỏng theo các sự vật có trong thiên nhiên. “ Cái thì dáng giỏ dâu, cái thì hình núi na, hình quả vả, quả sung, quả hồng”. Về cách chọn ấm, theo cụ Sáu, phải úp ấm xuống mặt ván gỗ, cho ngửa trôn lên, xem miệng vòi, quai ấm và gờ miệng ấm có cắn sát miếng gỗ không. Kĩ mữa, phải thả ấm vào trong nước, nếu ấm nổi đều các phần thì đích là ấm tàu. Chọn ấm cũng là một kì công của người dùng trà. Nguyễn Tuân đưa chiếc ấm vào tên truyện phải chăng bởi đó có lẽ là cái còn lại với người uống trà khi hương trà đã bay đi, tiêu tán trong không trung. Ngoài Tử sa, bộ đồ trà còn có phong phú các loại trà cụ khác gồm: dầm, bàn, tống quân. Dầm là đĩa nhỏ đựng chén tống. Bàn là đĩa lớn đựng nhiều chén quân. Chén tống là chén lớn dùng để rót trà từ ấm rồi chuyên vào các chén quân – chén nhỏ để thưởng thức.

Trong những ngày xuân tươi, bên lung linh mai vàng, đào thắm hay mỗi khi khách đến chơi nhà, bên những thức quà quê giản dị, đều không thể thiếu đi chén trà ấm nóng tỏa tâm thịnh tình, gọi niềm vui lên tiếng, gợi chuyện vui bắt đầu. Thưởng trà nhiều khi đã trở thành một nghệ thuật mang đậm tính nghi lễ. Mỗi động tác, cử chỉ trong khi dùng trà đều được chăm chút tỉ mỉ, đòi hỏi sự khéo léo của đôi tay, sự căng mở các giác quan và sự tinh tế, kiên nhẫn nơi tâm hồn. Rót một chén xong nhấc tay lên rót chén khác, động tác này gọi là “ Hàn Tín điểm binh”. Nếu “ Hàn Tín không điểm binh” thì đã có “ Quan Công đi tuần”: đặt các chén quân thành vòng tròn, ria đều ấm không nhấc tay cho tới khi chén nào cũng đầy. Chúng quy là để các chén không đậm, nhạt khác nhau. Nâng chén trà, ngón giữa đỡ dưới đáy, ngón trỏ và ngón cái giữ miệng chén gọi là “ Tam long giá ngọc”. Trước khi uống, đưa chén sang trái rồi sang phải, gọi là “ Du sơn lãm thủy”. Qủa thật rất cầu kì!

Với truyện ngắn Những chiếc ấm đất, Nguyễn Tuân đã cho người đọc hình dung khá tỉ mỉ về nghệ thuật thưởng trà của người Việt xưa. Uống trà không chỉ là thú vui tao nhã trong cuộc bình sinh mà còn là quá trình tu luyện cho tâm tĩnh tại, hồn thanh thản, óc mở mang. Chén trà nhỏ bé vậy mà với Lê Qúy Đôn: “ Một chén lòng sạch bong, hai chén lòng phơi phới, đến chén thứ bảy thì dưới hai cánh tay như có cánh thổi lên làn gió mơ màng,…” có thể đưa tâm hồn thăng hoa đến bất tận. Cụ Sáu trong truyện yêu trà với một tình yêu kì lạ. Cũng như Nguyễn Trãi từng quét tuyết pha trà dưới hiên trúc, chúa Trịnh Sâm từng xưng là trà nô, cụ Sáu cho tới khi đã thất cơ lỡ vận vẫn quý trà lắm, luôn giắt gói trà trong người, đợi lúc vắng vẻ pha uống một mình, qua chơi nhà ai, gặp mùa sen nở, vẫn cố bứt lấy ít nhụy ướp luôn vào trà mạn cũ. Nếu trên đời có người như thế, khi chết phải ướp vài trăm kí trà hảo hạng, phong làm “ Thành hoàng làng trà”!

Văn hoá thưởng trà được nói đến trong truyện của Nguyễn Tuân không chỉ giúp nhà văn phục dựng cái đẹp của một thời đã xa, nay chỉ còn dư âm và dư ảnh. Từ câu chuyện thưởng trà của nhân vật, ta có dịp thưởng thức vẻ đẹp văn chương và cái đẹp con người của Nguyễn. Ấy là lòng thiết tha với các giá trị văn hoá cổ truyền; là vẻ lịch lãm, am tường trong vốn sống; là cách tiếp cận sự vật và con người độc đáo; là sự công phu tỉ mỉ trong từng trang viết của một người quý trọng thực sự nghề nghiệp của mình. Tình yêu và sự hiểu biết về văn hoá không chỉ làm nên cốt cách văn hoá của nghệ sĩ mà còn giúp Nguyễn Tuân bắc một nhịp cầu để văn chương ông neo lại bến đời muôn thưở.

(Đoàn Thuỳ Dương)

– Thảo luận về cách đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình từ đặc trưng thể loại.

Ví dụ: Tổ chức cho HS thảo luận cách đọc hiểu Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu theo đặc trưng hình tượng nhân vật. HS cắt nghĩa và thảo luận xoay quanh một số gợi ý sau:

+ Lão Khúng là hình tượng về ai? Lão Khúng quê vùng biển nhưng lại lên khai hoang đồng rừng là có ý nghĩa gì?

+ Thử cắt nghĩa ý nghĩa biểu tượng của những nhân vật con lão Khúng (chú ý cả cách tác giả đặt tên nhân vật) để hiểu thêm về hình tượng lão Khúng.

+ Hình tượng con Khoang có ý nghĩa biểu tượng gì? (chú ý tên con vật trong mối quan hệ với tên nhân vật chính; chú ý các chi tiết về phẩm chất, tính cách và số phận của nó).

Và đây là kết quả đọc hiểu Phiên chợ Giát

Tác phẩm là cái nhìn triết học – lịch sử về người nông dân. Người nông dân trong cảm nhận của Nguyễn Minh Châu vừa là chủ nhân vừa là nạn nhân của lịch sử: họ xuống biển lên rừng (lão Khúng quê biển, lên khai hoang trên rừng); họ cống hiến máu xương (cho con đi bộ đội); họ mở mang bờ cõi (bỏ biển lên rừng khai hoang; cho con – thằng Lạc – vào Đắc Lắc làm kinh tế mới, thực chất cũng là khẩn hoang) nhưng con đi lính (Hùng – hào hùng) thì chết mất xác (chỉ còn bi hùng); con đi làm kinh tế thì chết đói (Lạc – lạc quan thành bi quan). Còn chuyện bút nghiên – học hành, hiểu biết thì non nớt, thơ ngây như đứa trẻ (con Nghiên, thằng Bút là những đứa con nhỏ dại của lão Khúng). Họ cũng đồng thời là chủ nhân và nạn nhân của chính bản thân mình, như con bò Khoang, con vật được lão xem như người bạn thiết thân, Nguyễn Minh Châu biến thành biểu tượng cho chính người nông dân: cần cù, nhẫn nại, cam chịu, phiền não với thân phận già nua, mòn mỏi. Ngay cả khi được tự do cũng không dám tự do, tự mình tước đoạt sự tự do của mình bằng thói quen nô lệ như con Khoang, được chủ thả cho tự do vào rừng, lại tự nguyện quay đầu trở lại làm thân phận bò nhà, cày kéo đến kiệt sức thì thôi.

– Thảo luận cách đọc hiểu tác phẩm ngoài chương trình từ góc độ phong cách tác giả.

Ví dụ: Tổ chức cho HS thảo luận về đọc hiểu Bóng chữ của Lê Đạt từ góc độ phong cách, GV hướng HS thảo luận theo định hướng sau:

+ Phong cách Lê Đạt là gì? (Lê Đạt – kẻ phu chữ, tâm niệm làm thơ là làm Tiếng Việt; rồi chữ bầu nên nhà thơ)

+ Ngôn ngữ trước Lê Đạt được thi nhân sử dụng như thế nào?

+ Ngôn ngữ Lê Đạt được sử dụng như thế nào và hiệu quả ra sao trong Bóng chữ?

Và đây là kết quả Đọc hiểu Bóng chữ

Nước ngọt cạn, người ta nghĩ đến việc lọc nước biển mà làm nguồn sống. Than kiệt, sông khô, người ta gom gió, thâu nắng mặt trời mà làm nguồn sáng. Đó là nỗ lực không mệt mỏi trong cuộc kiếm tìm năng lượng để nhân loại không đến bờ tối tăm tận diệt. Làm cho những chữ đã dùng xơ xác cũng kêu giòn và toả hương (Pauxtopxki) thực sự là cuộc kiếm tìm mang tính thẩm mỹ, cuộc tiếp sức cho nghệ thuật ngôn từ để thơ ca nghệ thuật tránh cơn hấp hối đoản mệnh. Trong hành trình ấy, nghệ sĩ không thể khước từ vai trò người phu chữ, như quan niệm của nhà thơ Lê Đạt.

Trước Lê Đạt, các nhà thơ trung đại chuyên tâm vào việc đúc chữ luyện câu. Cuộc lao tâm khổ tứ này cũng đã tạo ra những áng thơ ca bất hủ, làm kinh động lòng người (Đỗ Phủ). Nhưng, kho báu ngôn từ không phải là vô hạn nếu thi nhân chỉ một con đường: tìm nghĩa của chữ ở trong bản thân chúng. Với quan niệm mới về nghệ thuật: chữ bầu nên nhà thơchữ đanh thổi lửa, Lê Đạt đã khai mở, tạo sinh một vỉa quặng ngôn từ mới đầy năng lượng, giàu từ tính và tạo ra sóng từ trường mới, mạnh và lạ. Nói như Đỗ Lai Thuý, Lê Đạt không đi tìm thần tự, nhãn tự để làm sang cho thơ. Sự tìm chữ của Lê Đạt thực chất là tìm cách phát nghĩa mới. Mỗi chữ của Lê Đạt đều phát nhiều nghĩa cả trên trục cận kề và trục liên tưởng. Bóng chữ của Lê Đạt, chữ được chiếu rọi từ nhiều nguồn sáng đặt từ nhiều phương vị khác nhau, tạo ra nhiều bóng đổ vào nhau, lồng vào nhau. Những luồng sáng giao nhau tạo thành sự tán xạ, sự nhòe nghĩa đôi khi làm thành những mê lộ làm lúng túng khách tham quan thẩm mỹ vốn quen được hướng dẫn. Để du khách tự do thoải mái rong chơi trong vườn địa đàng thơ ca, tự mình khám phá, nhà thơ khiến cho tình yêu của ta khi đến với thơ ca cũng có ý vị riêng:

Chia xa rồi anh mới thấy vắng emNhư một thời thơ thiếu nhỏ

Em về trắng đầy cong khung nhớ

Mưa mấy mùa mây mấy độ thu

Vườn thức một mùi hoa đi vắng

Chiều Âu Lâu bóng chữ động chân cầu

Bài thơ vẻn vẹn 6 câu, những con chữ được sắp đặt theo nguyên tắc gián cách, cấu trúc thơ từ dạng phẳng truyền thống chuyển sang dạng nổi làm ta không khỏi lúng túng phút đầu gặp gỡ. Nếu xem mối quan hệ giữa các từ ngữ trong cổ thi là cuộc tao ngộ giữa tài tử – giai nhân đã quen mặt biết tên thì trong thơ Lê Đạt lại là cuộc kì ngộ, thậm chí là dan díu giữa những kẻ phá phách vượt rào. Song, dù là díu dan hay kì ngộ thì cũng không thể vắng mặt chữ duyên. Phải, chính chữ duyên ấy sẽ đưa các con chữ đến bến bờ ý nghĩa, để duyên hội ngộ mang đến tình trăm năm chứ không thể là cuộc gặp gỡ ồn ào để chia ly trong bẽ bàng dang dở. Thì đây, những chữ mang hình ảnh anh, em, thời thơ thiếu nhỏ, nhớ nhung, thao thức, vườn, mùi hoa và chân cầu (kỉ niệm), Âu lâu (lầu âu yếm, quê nhà) … tất cả dễ gợi ra một mối tình tha thiết. Xa em rồi anh mới thấy vắng em như một thời thơ thiếu vắng tuổi thơ. Nỗi trống vắng pha rất nhiều ngậm ngùi xa xót bởi bị tước đoạt hạnh phúc tự nhiên mà cuộc đời ban tặng. Em xa rồi, anh thấy tràn đầy trĩu nặng một khung trời nhung nhớ, kỉ niệm về một thời trong trắng ngây thơ. Em đi rồi, thời gian cũng lạnh lẽo, mịt mờ thê lương, chia li phai úa. Em đi vắng, anh như khu vườn không ngủ với dư hương kỉ niệm; em đi vắng, anh như khu vườn vô sắc, vô hương, cuộc đời vô nghĩa. Không tìm thấy niềm vui trong tình yêu, trở về quê hương nguồn cội, anh thấy em như bóng ảnh vụt qua làm lầu yêu chỉ còn phế tích một cuộc tình. Nhưng, cũng vẫn câu chữ ấy, khi nó toả ra năng lượng mới, nó lại tạo sinh một từ trường mới. Cuộc hôn phối mới của chữ nghĩa lại tạo ra mối duyên mới cho ý nghĩa bài thơ: anh không chỉ là tình nhân, anh là thi nhân. Em và hoa không chỉ là giai nhân mà còn là Nàng Thơ muôn thưở. Thơ đâu chỉ là thời thơ ấu mà còn là một thời thơ ca vụng dại. Cho nên, bóng không là bóng em mà đích là nghĩa bóng ngôn từ và chân cầu nhập nhoè giữa nơi hẹn chốn hò tình yêu với câu từ trần trụi (khi nói lái). Ý nghĩa bài thơ mở ra một vỉa tầng mới: Khi phải trả giá rồi, thi nhân mới thấy nhớ một thời thơ thiếu tuổi thơ – một thời thơ rất già, cũ mòn, lạc hậu. Ông xóa hết những nhớ nhung về một thời thơ già nua mòn mỏi. Thời gian sẽ phai mờ, kết thúc những gì già cỗi. Cái đẹp, nàng thơ trẻ trung rất xa, thi nhân vẫn thao thức đợi chờ, tìm kiếm. Cuộc kiếm tìm, khao khát Nàng Thơ cho thi sĩ một cơ duyên gặp nghĩa bóng mênh mang – bóng chữ. Nghĩa bóng, sức gợi của thơ lay động những câu chữ trụi trần. Bóng Chữ trở thành một ẩn dụ kép: là dư ảnh một tình yêu và dư âm một cuộc kiếm tìm nghệ thuật. Theo Thuỵ Khuê, Bóng Chữ chao đảo giữa mộng và thực; tục và thanh; nhân và ảnh; phôi pha và vĩnh cửu. Bóng Chữ là bài thơ tình, phần sầu riêng, không tôi, không ta, không địa chỉ. Nấp sau bóng hình hài hóm hỉnh trêu ngươi là tình yêu trầm lắng, thiết tha, nỗi buồn tìm kiếm triền miên tình yêu và nghệ thuật.

3.3.3. Tổ chức cho HS trình bày sản phẩm đọc hiểu bằng nhập vai/Đọc sáng tạo

– Nhập vai để kể lại câu chuyện theo một cách khác

Ví dụ: Tổ chức cho HS thảo luận về giá trị truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc, chúng tôi đưa ra một tình huống: Ngoài cách kể mà Nguyễn Ái Quốc sử dụng, theo anh/chị, Vi hành có thể kể bằng cách nào khác? Chọn một cách kể của anh/chị và kể lại câu chuyện. Từ đó, nêu một vài nhận xét.

+ Mục đích: Giúp HS nắm vững tác phẩm một cách tự nhiên (vì muốn kể lại thì phải nhớ); phát huy năng lực sáng tạo; qua đó, một cách tự nhiên, HS thấy được giá trị nội dung tác phẩm và nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Theo chúng tôi, đó cũng là một cách đọc hiểu.

+Cách tiến hành: Ra bài tập, yêu cầu HS về nhà viết thành bài hoàn chỉnh; sau đó, tổ chức cho HS trình bày trên lớp, người nghe thảo luận và người viết nêu nhận xét về chính sản phẩm của mình.

+Sản phẩm: Tất cả HS đều có lựa chọn cách kể mới, đều nắm vững tình huống, nhân vật, các chi tiết nghệ thuật và đều nhận ra hạn chế trong cách kể của bản thân, từ đó, hiểu được giá trị trong cách kể của tác giả. Xin minh hoạ 3 sản phẩm tiêu biểu (có phụ lục đi kèm)

* Bỏ cách kể dưới hình thức bức thư, giữ nguyên tình huống nhầm lẫn, giữ nguyên ngôi kể thứ nhất; giữ nguyên nhân vật tôi – chiến sĩ Cộng sản, thêm tư cách phóng viên báo Nhân đạo kể lại cho các bạn phóng viên cùng cư xá. Chọn cách kể này, người viết nhận ra, cách kể của mình có nhiều hạn chế: do thêm vào nhiều nhân vật nên câu chuyện trở nên dài dòng; nhân vật thể hiện tư tưởng quá rõ nên lộ liễu, không đảm bảo được sự tinh tế, thâm trầm, trí tuệ của tác giả. Qua đó, người kể nhận thấy cách kể của Nguyễn Ái Quốc vừa hiện đại, vừa trí tuệ, hợp lí, không thể thay thế được bằng cách khác (Hoàng Minh Hạnh – Chuyên Văn khoá 2005 – 2008)

*Bỏ cách kể dưới hình thức bức thư, bỏ tình huống nhầm lẫn, chọn vai kể là anh thanh niên người Pháp bàn luận về hoàng đế với cô người yêu. Chọn cách kể này, người viết nhận thấy: không đảm bảo được những suy nghĩ của nhân vật tôi trong truyện; không đổi giọng và chuyển cảnh linh hoạt được; bỏ mất nhiều chi tiết đặc sắc; tầm phản ánh hiện thực bị thu hẹp. Điều đó giúp tôi càng hiểu hơn vẻ đẹp trí tuệ trong truyện ngắn của Người. Vẻ đẹp ấy trước hết đến từ điều giản dị trong nghệ thuật viết văn tự sự: chọn ngôi kể và cách kể (Nguyễn Hải Hà – Chuyên Văn khoá 2005 – 2008).

* Bỏ cách kể dưới hình thức bức thư, bỏ tình huống nhầm lẫn, giữ ngôi kể thứ nhất nhưng thay người kể là một nhân viên mật thám Pháp có nhiệm vụ tháp tùng vị quốc vương An Nam, báo cáo hành trạng của nhân vật lên tổng thống Alechxang Milorang. Chọn cách kể này, người viết kết luận: Khi chuyển cách kể của tác giả sang cách kể của mình, tôi thấy rất khó giữ nguyên các nội dung văn bản. Những nội dung chính như: tâm trạng và thái độ tố cáo bị mất, hoàn cảnh và tâm trạng của người dân vong quốc không thể nói được, giọng khách quan và các chi tiết nghệ thuật không thể sắc sảo. Có thể nói, hình thức của Vi hành mà Nguyễn Ái Quốc đã chọn là hình thức duy nhất để đảm bảo mọi nội dung một cách hấp dẫn. Thử sức một chút, tôi càng thầm ngưỡng mộ vẻ đẹp trí tuệ trong truyện ngắn của Người, tôi càng thấm thía một điều: sáng tạo nghệ thuật rất cần đến tài năng (Nguyễn Thị Hương – Chuyên Văn 2005 – 2008)

– Nhập vai dịch giả để dịch lại thơ theo cách hiểu của cá nhân

Mục đích: Mảng thơ của dân tộc viết bằng chữ Hán hoặc thơ nước ngoài (đặc biệt là thơ cổ Trung Quốc) chiếm một vị trí đáng kể trong chương trình. Văn hoá Việt Nam có nhiều điểm gần gũi với văn hoá Trung Hoa; ngôn ngữ dân tộc ta chiếm tới 70% từ Hán Việt. Do đó, tổ chức cho HS đọc hiểu thơ ngoài CT bằng cách tập dịch thơ hướng tới các mục đích: đa dạng hoá các hình thức đọc hiểu; sinh động hoá cách học Văn, có thêm vốn hiểu biết về ngôn ngữ dân tộc, có thêm hiểu biết về văn hoá cổ, thi pháp thơ Trung đại và đặc biệt hiểu thêm về vẻ đẹp ngôn ngữ thơ ca, giá trị nội dung, công việc sáng tạo của nghệ sĩ.

Cách làm: GV chọn một số bài tiêu biểu, khuyến khích HS tập dịch, tổ chức cho các em trình bày trong CLB Văn học, đăng trên báo bảng, đưa vào nội san…

Sản phẩm: Xin minh hoạ sản phẩm dịch thơ Bác của HS Trần Kim Yến (chuyên Văn khoá 2005 – 2008)

*Bài Mộ (Chiều tối)

Phiên âm Dịch thơ
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụCô vân mạn mạn độ thiên không

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng

Cánh chim mỏi mệt về rừngChòm mây cô lẻ trên từng thinh không

Ngô kia sơn nữ xay xong

Ngô xay dứt, đã rực hồng lò than

*Bài Triêu cảnh (Cảnh buổi sớm)

Phiên âm Dịch thơ
Thái dương mỗi tảo tòng sơn thượngChiếu đắc toàn sơn xứ xứ hồng

Chỉ vị lung tiền hữu hắc ảnh

Thái dương vị chiếu đáo lung trung

Sáng sớm mặt trời lên đỉnh núiChiếu sáng muôn nơi ánh rực hồng

Nhà lao bóng tối còn trước mặt

Ánh dương chưa chiếu được vào trong

*Bài Thu dạ (Đêm thu)

Phiên âm Dịch thơ
Trù hoạch canh thâm tiệm đắc nhànThu phong thu vũ báo thu hàn

Hốt văn thu địch sơn tiền hưởng

Du kích quy lai tửu vị tàn

Canh khuya việc vãn tạm nghỉ ngơiMưa gió tin thu lạnh đến rồi

Tiếng sáo núi kia chợt vọng lại

Du kích về làng rượu chửa vơi

PHẦN THỨ BA: PHỤ LỤC

MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU TÁC PHẨM VĂN HỌC NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH CHO HS CHUYÊN

  1. Kết quả đọc hiểu tác phẩm VHDG: Trầu cau

Đọc hiểu truyện cổ tích Trầu cau theo đặc trưng thể loại

Trầu cau là truyện tiêu biểu trong kho tàng cổ tích Việt Nam. Song không giống như phần nhiều truyện cổ tích khác thường khép lại bằng một kết thúc có hậu, Trầu cau lại có một cái kết có vẻ bi kịch với cái chết của ba nhân vật. Nhưng bi mà không lụy, có buồn nhưng đó là nỗi buồn trong sáng, có tác dụng nâng đỡ, thanh lọc tâm hồn bởi vẻ đẹp của tình người.

Đó là tình anh em ruột thịt, tình vợ chồng gắn bó, keo sơn. Văn học khác với đạo đức hay triết học ở chỗ không nói bằng khái niệm, thuật ngữ cũng không thuyết giáo một cách khô khan, giáo điều mà nói bằng hình tượng sống động, từ đó tác động vào nhận thức và tình cảm của người đọc. Câu chuyện về tình anh em không phải là ít trong thế giới cổ tích. Sáng tạo của dân gian ở đây là xây dựng hình tượng hai anh em sinh đôi nhà học Cao. Nghĩa là ngay từ khi còn trong bụng mẹ, họ đã cùng chung giọt máu gắn kết rồi. Cha mẹ mất, hai anh em dành cho nhau không chỉ là tình anh em mà bằng cả tình cảm mẹ cha cộng lại. Người xưa khéo léo tạo ra những tình huống đặc biệt để nhân vật tự bộc lộ. Bát cháo và đôi đũa là cách để cô gái thông minh xác định đâu là anh, đâu là em vì họ giống nhau như hai giọt nước, không ngờ nó lại thành phép thử cho tình anh em kính trên nhường dưới. Rồi người anh có vợ, tình cảm anh em bị san sẻ, người em buồn nhưng chỉ một mình mình biết, một mình mình hay. Kịch tính câu chuyện đẩy lên cao khi người chị dâu có sự hiểu lầm. Người em không muốn mình thành kẻ thứ ba đầy vô lí giữa tổ ấm hạnh phúc của anh đã lặng lẽ ra đi. Đọc đến đây, không hiểu sao tôi chỉ muốn kêu lên thật to thay cho người em nỗi niềm ấm ức, day dứt trong lòng. Nhưng tôi cũng muốn ca lên thật to bài ca về tình yêu thương giữa con người với con người. Hình như có ai đã nói: Khi yêu, người ta thường ích kỉ. Điều đó không phải không có lí. Nhưng sự lựa chọn của người em ở đây đã cho tôi sáng ra một điều: tình yêu đẹp là tình yêu vị tha, độ lượng. Tôi tin, người em đã có lựa chọn đúng, dù anh phải chịu thiệt thòi. Không chỉ người em, cả người anh, cả người chị dâu cũng đã bỏ nhà đi tìm khi không thấy người thân yêu trở về. Hình ảnh tảng đá, cây câu, dây trầu quấn quýt bên nhau là sự hóa thân của tình anh em, chồng – vợ thắm thiết, sâu nặng. Tôi thích cách lí giải giản dị mà cảm động, thấm thía của cha ông về phong tục trầu cau – một phong tục mà tôi muốn gọi đó là mĩ tục ấy.

Các nhà văn học được văn trong truyện cổ tích và học được thơ trong ca dao. Đến với cổ tích Trầu Cau, người đọc không chỉ hiểu thêm về một nét văn hóa, phong tục đẹp của dân tộc cùng những bài học về ứng xử giàu tình người mà còn tiếp thu được những kinh nghiệm quý về cách viết truyện: từ cốt truyện nhiều kịch tính đến nhân vật để lại nhiều ấn tượng, hình ảnh giàu giá trị biểu tượng…

  1. Kết quả đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại Việt Nam: Dục Thuý sơn – Nguyễn Trãi

Hai câu mở đầu mới đọc tưởng chỉ như mấy lời thông báo. Nhưng chỉ có thế thôi thì chưa phải là thơ. Đọc kĩ sẽ thấy ở đó đã có thơ rồi. Thơ hay quý ở chỗ cong (Viên Mai). Chất thơ ở đây chính là sự gợi mở đầy hàm ý trong những lời cô đúc:

Cửa biển có non tiên

Từng qua lại mấy phen

Phải là nơi chứa đựng bao nhiêu hấp dẫn kì thú thì mới khiến thi nhân mấy phen qua lại. Chẳng vậy mà có đến mấy lần nhà thơ láy đi láy lại cái nét tiên, non tiên rồi cảnh tiên của Dục Thúy sơn. Vẽ lại vẻ đẹp của một vùng nước non kì thú, nhà thơ chỉ chọn lấy một vài hình ảnh giàu tính khái quát và tượng trưng này:

Cảnh tiên rơi cõi tục

Mặt nước nổi hoa sen

Người đọc có thể hình dung núi Dục Thúy như một đóa sen nổi bồng bềnh trên mặt nước. Bên trong vẻ đẹp ấy còn lấp lánh bao vẻ đẹp khác nữa: nào là bóng tháp như chiếc trâm cài đầu của người con gái, nào là ánh sáng lấp lánh trên sóng nước như gương soi mái tóc biếc xanh… Không biết chính thiên nhiên đã tôn tạo lẫn nhau hay hồn thơ lãng mạn cùng lời thơ giàu sức gợi đã làm đẹp thiên nhiên? Chỉ biết tất cả vẻ kì ảo diễm lệ này lại hiện ra đầy bất ngờ, kì thú như ý của câu ba: Cảnh tiên rơi cõi tục. Từ rơi trong bản dịch, hay từ trụy trong phiên âm được dùng thật chính xác và hay đến bất ngờ. Đây xứng đáng là nhãn tự làm nên thần cú.

Riêng hai câu thơ: Bóng tháp hình trâm ngọc/Gương sông ánh tóc huyền cũng có sức gợi rất cao. Nét đẹp thiên nhiên vốn hấp dẫn con người tự muôn đời. Nhưng thiên nhiên vốn không biết nói nên phải cho thiên nhiên một cái hồn. Người ta là hoa của đất. Ví vẻ đẹp thiên nhiên với vẻ đẹp của người con gái, phải chăng là cách tạo hồn cho thiên nhiên vậy. Thơ của Nguyễn Trãi vừa lãng mạn, bay bổng, vừa rất đỗi trần thế, đời thường. Thì ra cảm hứng gắn bó hòa nhập với thiên nhiên của Ức Trai cũng là cảm hứng gắn bó hòa nhập với cuộc đời, với con người trần thế. Điều này còn thể hiện ở nhiều thi phẩm khác của tác giả như Cây chuối, Cảnh ngày hè…

Đến hai câu kết, tưởng như có ý gì khác lạ không gắn với cảm hứng trên. Lời thơ đột ngột nhắc đến Trương Hán Siêu- một nhân vật nổi tiếng thời Hậu Trần. Ông đã từng qua lại nơi này và còn ghi thơ khắc bia đề dấu nữa. Phải chăng, nhắc đến họ Trương, tác giả Nguyễn Trãi muốn tạo một gạch nối xuyên thời gian về niềm say mê với nơi này của nhiều thế hệ- cũng là một cách ngầm khẳng định thêm một lần nữa vẻ đẹp của Dục Thúy sơn?!

Hiếm có bài thơ nào của thời trung đại mà cảm hứng về đất nước lại được bộc lộ một cách phóng khoáng, bay bổng như vậy. Vẻ đẹp của núi Dục Thúy được gợi lên như một vùng Bồng lai tiên cảnh ở trần gian. Song dù là tiên thì cũng vẫn rất đời. Chất lãng mạn dạt dào ở đó mà chất nhân bản sâu lắng cũng là ở đó.

III. Kết quả đọc hiểu tác phẩm văn học trung đại thế giới: Đônkihôtê

Tiếp cận văn bản Đôn Kihôtê của Cervantes từ góc độ văn hóa.

Góc độ văn hóa: Biểu tượng cặp đôi nhân vật.

Cervantes (1547-1616) nhà văn vĩ đại của Tây Ban Nha cha đẻ của cuốn tiểu thuyết Đôn Kihôtê lừng danh mọi thời đại. Nền văn học phục hưng Tây Ban Nha lúc bấy giờ nở rộ hai tiểu thể loại tiểu thuyết chính. Đó là tiểu thuyết hiệp sĩ và tiểu thuyết bợm nghịch. Cervantes đã kết hợp hai tiểu thể loại này để xây dựng nên cuốn tiểu thuyết bất hủ Đôn Kihôtê.

Đôn Ki hô tê với hình hài gầy đét cao lênh khênh mang trong mình tư tưởng hiệp sĩ đi đây đó chiến đấu để cứu nguy nhân loại là biểu tượng cho hình tượng người anh hùng thời xa xưa. Nguyên mẫu thần thoại về người anh hùng trong thần thoại Hi Lạp được tái hiện trong nhân vật này. Chiến đấu cho lí tưởng bảo vệ nhân loại và hơn nữa để khẳng định mình đã thôi thúc nhân vật ra đi dù có phải nhận thất bại.

Nhưng trong tác phẩm điều đặc sắc nhất là Cervantes thật tài tình khi xây dựng một biểu tượng cặp đôi giữa Đôn Kihôtê và Santrô Panxa. Họ là biểu tượng hai mặt của thực thể con người: tinh thần và thể xác. Panxa với cái bụng tròn béo, vai luôn đeo rượu thịt là biểu tượng thể xác với những nhu cầu phàn tục của con người. Đôn Kihôtê lại là biểu tượng tinh thần tuyệt đối thuần túy không có sự liên hệ nào với thể xác. Văn hóa châu Âu trung cổ tồn tại hai thái cực. Một cực là nguyên tắc đạo đức trung cổ đề cao tinh thần không hề tính đến thể xác với việc ép xác, tu thân, hành xác của nhà thờ tôn giáo đã tồn tại lâu đời. Một cực khác là thể xác dân gian gắn liền thể xác vật chất nói chung và cả thể xác riêng của con người như là phần tự nhiên gắn bó với dòng tộc, máu thịt dòng tộc. Có thể thấy Đôn Kihôtê là biểu tượng cho tinh thần thiên chúa giáo, còn Panxa biểu tượng cho thể xác dân gian. Đó là hai mặt tồn tại của con người và cũng là hai mặt của nên văn hóa châu Âu. Nó cũng như hai phần Âm -Dương trong mỗi thực thể tồn tại. Song song tồn tại đấu tranh đan xen chuyển hóa với nhau trong một thực thể hiện tồn.

Mặt khác biểu tượng cặp đôi giữa Đôn Kihôtê và Santrô Panxa còn cho ta thấy được sự tồn tại của nền văn học bấy giờ. Panxa nói với Đôn Ki hô tê là ngôn ngữ của y thật là bác học chuẩn mực khó hiểu. Còn Đôn Ki hô tê lại nhắc nhở Panxa không dùng khẩu ngữ và sử dụng từ ngữ không đúng chỗ. Thông thường nói đến văn học viết là nói đến ranh giới, hệ thống chuẩn mực đã được xác lập nhưng trong văn học dân gian có một sức mạnh bản năng tự nhiên như một thứ xung năng phá vỡ mọi nguyên tắc quy chuẩn. Đó là tiếng cười trào phúng dân gian. Nếu Đôn Kihôtê nghiêm túc một cách bi tráng thì Panxa lại phóng khoáng với tiếng cười trần tục. Bộ đôi đó chính là biểu tượng cho sự hiện tồn của hai bộ phận văn học viết và dân gian cấu thành nên nền văn học châu Âu lúc bấy giờ.

Như vậy cặp đôi nhân vật Đôn Kihôtê và Santrô Panxa là một biểu tượng đa nghĩa mang quan niệm của nền văn hóa cũng như ý đồ nghệ thuật của tác giả. Nhờ đó tác giả mở ra cho tiểu thuyết một hướng đi mới: Tiểu thuyết đan xen hai cốt truyện (tích lũy và tuần hoàn) và hai hình tượng nhân vật (hiệp sĩ và bợm nghịch ) tạo nên cốt truyện tình huống và lối tả con người thể xác trong dòng chảy của thời gian.

  1. Kết quả đọc hiểu tác phẩm hiện đại Việt Nam: Phiên chợ Giát

Kĩ thuật “dòng ý thức” trong truyện ngắn “ Phiên chợ Giát” của Nguyễn Minh Châu

Thuật ngữ “dòng ý thức”

Dòng ý thức là một thuật ngữ văn học chỉ một xu hướng sáng tạo văn học (chủ yếu là văn xuôi) khởi điểm từ thế kỉ XX, tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm, xúc cảm và liên tưởng ở con người.

Ngay từ những năm của thế kỉ XVIII, “dòng ý thức” đã được manh nha hình thành một cách đơn giản như một thủ pháp nghệ thuật trong một số tác phẩm, tiêu biểu là “The life and opinions of Tristram Shandy, Gentleman” của Laurence Sterne (1760-1767). Tuy nhiên, phải đến những năm cuối của thể kỉ XIX và đầu thế kỉ XX khi thuật ngữ “dòng ý thức” được đưa ra một cách chính thức bởi Wiliam Janes thì kĩ thuật này mới được phát triển mạnh mẽ trong các sáng tác nổi bật của một số nhà văn lớn trên thế giới. Ở đây phải kể đến các tác phẩm điển hình của dòng văn học này là “Đi tìm thời gian đã mất” (Marcel Proust), “Ulysses” (Jame Joyce), “Âm thanh và cuồng nộ” (William Faulkner).

Văn học dòng ý thức ở Việt Nam, trong sự chủ động hội nhập với lối viết hiện đại, khuynh hướng dòng ý thức gắn với những cây bút tiêu biểu như Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Châu Diên, Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư… Tác phẩm của họ không đơn thuần là sự thể nghiệm hình thức mà thực sự đã tạo được ấn tượng thẩm mỹ về cuộc sống và con người, về lao động nghệ thuật và những tìm tòi không nghỉ của người nghệ sĩ.

Nguyễn Minh Châu được đánh giá là một “người mở đường tinh anh và tài năng” của nền văn học đổi mới. Với các tác phẩm trước đó như Bức tranh, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa … dù đã thay đổi về cách nhìn nhận và phản ánh về hiện thực và con người nhưng chỉ đến “Phiên chợ Giát” tác phẩm cuối đời thì sự hài hòa dấu ấn đổi mới, mới thực sự có tiếng vang về sức nặng nghệ thuật. Truyện ngắn “Phiên chợ Giát”, là ngọn hải đăng soi đường cho văn học khi mà thông qua hành trình của “dòng chảy ý thức” nội tại bên trong con người giúp ta hiểu hơn về con người cụ thể là người nông dân, hiểu về đấu tranh và khát vọng cho sự tiến bộ gắn với con người vì một tương lai tốt đẹp hơn cho con người.

Kĩ thuật “dòng ý thức” trong truyện ngắn Phiên chợ Giát

Kĩ thuật sáng tác theo khuynh hướng dòng ý thức cố ý phá vỡ kết cấu trần thuật truyền thống, thiết lập kiểu không – thời gian tâm lý với thủ pháp biểu hiện nghệ thuật vận dụng độc thoại nội tâm và liên tưởng tự do. Trong Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, kĩ thuật dòng ý thức được chúng tôi khám phá qua việc hệ thống và phân tích những giấc mơ, kĩ thuật dung hợp đảo lộn không – thời gian và độc thoại nội tâm.

Những giấc mơ – dòng chảy của tầng vô thức, tiềm thức

Trong Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, kĩ thuật dòng ý thức này gắn liền với những giấc mơ – kiểu độc thoại nội tâm của tầng vô thức, tiềm thức của chính nhân vật lão Khúng.

Những giấc mơ xuất hiện ngay ở phần đầu truyện một cách bất ngờ, ấn tượng. Dù chúng xuất hiện không liền mạch, nội dung giấc mơ không liên quan đến nhau nhưng lại liên tiếp nén lại trong trần thuật ngắn, trong một khoảng thời gian ngắn của khoảnh khắc sống nhân vật: Lão Khúng thức giấc. Lão chợt thức giấc vì một cơn mê khủng khiếp và giấc mơ thứ hai ùa đến trong tâm trí lão tựa như một điều hiển nhiên: Lão yên tâm nằm xuống. Và nghĩ về giấc mơ tiếp sau đó.. Tưởng chừng là vô tình nhưng cũng giống như đã được sắp đặt từ trước, hai giấc mơ lại cùng lúc xuất hiện vào thời điểm này: khi lão chuẩn bị đi bán con bò – “người bạn đời” của lão cho người ta giết thịt.

Giấc mơ thứ nhất của lão thật khủng khiếp, ở đo có hình ảnh của chính lão với những mảng tiết bò còn ướt hoặc đã khô dính bết trên các bắp thịt nổi cuộn, đang nâng chiếc búa bổ xuống giữa đầu một con bò. Lão nhận ra đó là con Khoang đen nhà lão, nhưng lại bị lún một mảng trán sát hai con mắt, một con mắt dính đầy máu trồi ra ngoài. Trong cơn mê, lão còn nghe thấy cả tiếng kêu rốngghê rợn của con bò. Tiếng kêu ấy lại gợi cho lão về môt hồi ức xưa cũ, khi lão còn nhỏ hay đi qua nhà a ba toa phố Cầu Giát, lão cũng nghe tiếng kêu đó khiến lão phải bịt cả hai lỗ tai, vắt chân lên cổ mà chạy. Lão mơ thấy mình trở thành kẻ sát hại chính con Khoang đen nhà lão. Giấc mơ của lão Khúng là ám ảnh về tội ác sắp diễn ra khi mà nó xuất hiện trước khi lão chuẩn bị bán con Khoang đen nhà lão cho người ta làm thịt. Giấc mơ của lão Khúng là hướng tới một tương lai khi mà trong tầng sâu ý thức lão đang lo lắng cho số phận con bò khi bị bán cho người ta làm thịt. Một lão nông dân yêu con vật đặc biệt là coi con Khoang đen như một người thân của mình càng tạo nên ám ảnh về tội ác. Giấc mơ trở về trong tâm trí lão. Nó đến tự nhiên vì con người lão luôn luôn có một nỗi ám ảnh trong cuộc sống, trong ý thức hàng ngày: lão không chịu nổi bất kì con vật gì kêu khi sắp chết. Nhưng đó cũng là nỗi ám ảnh chợt xâm chiếm tâm hồn khi người ta biết rằng mình sắp sửa làm một việc tàn ác – nỗi ám ảnh về tội ác sắp diễn ra. Vì trong tương lai gần thôi, lão sẽ phải chứng kiến một hiện thực như thế, tuy lão sẽ không phải người trực tiếp cầm chiếc búa kia bổ xuống đầu con bò, nhưng cũng là kẻ gián tiếp gây nên tội ác ghê người ấy, bán cho người ta làm thịt. Có lẽ lão sợ, sợ chính mình, một kẻ vô nhân tính, theo như lão nhìn nhận. Đó không còn là nỗi sợ hãi trong mơ, trong trí nhớ nữa mà đã trở thành nỗi ám ảnh về tội ác đeo đẳng, bám riết không rời lấy tâm trí lão Khúng. Giấc mơ cho ta thấy con người bên trong cái tôi bề sâu của lão Khúng. Lão đang đấu tranh nội tâm khốc liệt nhất ám ảnh cả vào giấc mơ. Một con người yêu thương gắn bó với vật nuôi, trân trọng vật nuôi đang đấu tranh giữa tình thương con vật và mưu sinh trách nhiệm với gia đình, giữa tình nghĩa với vô ơn, giữa lương thiện và tội ác. Vì bán con bò, lão mới có tiền cho đứa con trai lão đang gặp khó khăn khi làm kinh tế ở Đắc Lắc.

Giấc mơ về cái chết của con Khoang Đen giống như chiếc bản lề, là cửa ngõ thông suốt dẫn đường vào thế giới vô thức của nhân vật. Bởi vậy, giấc mơ liền tiếp của lão Khúng lại không nằm trong mạch lô-gic của tuyến thời gian, không gian với giấc mơ trước đó. Trong mơ, lão nhìn thấy một chiếc xe com-măng-ca đầy oai vệ đang lao vút đến, cứ bay là làbốn bánh xe không hề chạm đất. Và lão thấy ông Bời – bí thư huyện ủy – con người nổi tiếng khắp đài báo trong cả nước và là bạn thân của lão Khúng đang ngồi trong chiếc xe đít tròn biết bay đó. Lão chỉ nghĩ đến đó, về nụ cười hớn hở cùng cái chém chém vào không khí của ông bí thư huyện, rồi lão không nghĩ gì thêm nữa. Một giấc mơ kì lạ đến trong vô thức tưởng như không có ý nghĩa gì cả. Nhưng không, mọi nỗi ẩn ức của con người trong thực tại luôn ùa về trong những giấc mơ, mà nỗi ẩn ức của lão Khúng cũng bao hàm cả hinh ảnh của ông Bời bí thư ấy, và ở đó, lão Khúng và ông Bời lại thuộc về hai phía đối lập. Nếu lão Bời là đại diện cho những người hưởng ứng phong trào lao động tập thể, của nền kinh tế tập trung, bao cấp gò bó lúc bấy giờ, thì lão Khúng lại là hình ảnh của những người lao động nhỏ bé sống ngoài những khuôn thước của, định hướng của xã hội, đang nhọc nhằn bước đi trên con đường, lựa chọn của cá nhân mình – con người cứng đầu cứng cổ của làm ăn cá thể. Cái không nghĩ thêm gì nữa của lão Khúng phải chăng chính là sự từ chối, là hành trình đấu tranh của một nhóm người lao động muốn vượt thoát ra khỏi sự tù túng chật hẹp của xã hội kinh tế để trở về với lựa chọn của mình, với những mong muốn được làm chủ cuộc sống của mình. Ấy cũng là hành trình kiếm tìm cái tôi riêng và khát vọng được khẳng định mình, được sống một cuộc đời riêng theo nguyện ước mà Nguyễn Minh Châu đã nhìn ra được ở nhưng con người lao động nhỏ bé, giản dị mà giàu khát khao ấy. Ý thức về nỗi ám ảnh đời tư cá nhân trong giấc mơ thứ nhất giờ đây đã trở thành ý thức, thành nhưng suy ngẫm, ẩn ức về cả một xã hội, một cộng đồng. Từ vô thức ẩn ức cá nhân thành vô thức ẩn ức tập thể. Từ đè nén của cá nhân thành sự đè nén trước một guồng quay của số đông của xã hội. Chúng đan cài để thấy được hai tầng lớp vô thức của nhân vật. Lớp tầng của vô thức cá nhân và lớp tầng khó nhìn thấy hơn nữa là vô thức tập thể.

Nguyễn Minh Châu không dừng lại ở đó, tới giấc mơ thứ ba của nhân vật xuất hiện ở phần cuối truyện, những suy ngẫm trăn trở của nhân vật lại được mở rộng ra mang tầm vóc nhân loại. Lại kì lạ hơn khi lão thấy mình trong hình dáng nửa người nửa bò. Giấc mơ sử dụng yếu tố kì ảo hoang đường để xây dựng nên hình tượng có tính chất nghịch dị lưỡng hóa. Đây là một trong những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn khi yếu tố hoang đường này giúp cho giấc mơ hấp dẫn hơn trong mạch vận động sự kiện cũng như góp phần vào việc phản ánh hiện thực chiều sâu của nhân vật và hiện thực của đời sống. Trên đường dong con bò, sắp đến đích chợ cầu Giát nơi bán bò, lão Khúng chìm vào giấc ngủ. Trong một giấc ngủ chập chờn trên xe bò, lão đã mơ thấy mình chính là con bò và bị búa tạ bổ vào đầu. Và trong dáng nửa người nửa bò lão cùng với lão Bời đi theo sau thằng Lạc con trai lão trên những cánh đồng cao khô cằn nắng rát ở tận Tây Nguyên. Nhưng kì lạ thay đất đỏ cao nguyên bỗng trở thành thứ đất màu mỡ, lão trong thân kiếp con bò đang say sưa, đang cày xới mảnh đất bên cạnh cánh rừng xanh, xanh bát ngát. Trong hình hài con bò, ý thức đã nảy nở, nó phải trở về rừng xanh, con súc vật đã trở nên hoang dã trở lại được cái cuộc sống tự do của nó.

Giấc mơ này giống như một sự soi chiếu với giấc mơ đầu tiên, nhưng lần này lại chính là lão Khúng bị búa đánh vào giữa trán, chính lão lại trong hình ảnh của con bò. Và lão Bời xuất hiện như là cuộc đấu tranh giữa cái tôi tự do ngang tàng trong lão với những lớp giáo điều của tập thể. Những giấc mơ phi lô-gic dường như cũng không phải là mơ, mà giống như chính nhân vật đang trải nghiệm, đang đi tìm chính mình, chiều sâu con người mình ở thực tại trong tầng vô thức, trong thế giới của riêng mình. Đến đây, tầng vô thức của nhân vật lại được gắn với quá trình đấu tranh giữa cái thiện và cái ác. Giữa việc bán con bò cho hàng thịt – cũng là gián tiếp làm nên tội ác tày trời mà có lẽ cả đời này lão chẳng bao giờ nghĩ đến và thả nó đi, lão Khúng đã lựa chọn cách thứ hai. Với con người luôn đau đáu nỗi ám ảnh, day dứt về tội ác ấy, giải thoát cho con vật cũng chính là lão đang giải thoát cho chính mình. Lão tỉnh dậy khỏi cơn mơ trong sự khoan khoái vô cùng, như là đã trút được gánh nặng đè nén bấy lâu. Ấy cũng là khát vọng hướng thiện luôn đau đáu trong tâm hồn lão, trong tâm hồn những con người đơn sơ, chân chất vô cùng mà đôi mắt tinh tế của Nguyễn Minh Châu đã khám phá ra, nhìn thấu thấy được.

Những giấc mơ được tái hiện không theo trật tự, lô-gic về không gian, thời gian có sự pha trộn giữa hiện thực và kì ảo của hồi tưởng với ảo giác, chiêm bao, giả định…, không đem đến cho người đọc một hiện thực đáng tin nào, nhưng dẫn dụ người đọc suy ngẫm về ý nghĩa cuộc sống, về cái lạ lùng, đa đoan của thân phận người. Tác giả đã mở rộng tầm khái quát hiện thực của những giấc mơ: từ cá nhân đến xã hội và cuối cùng là cả nhân loại. Qua đó nhà văn muốn hướng tới thể hiện đời sống nội tậm phong phú và phức tạp của con người mà chỉ khi ngụp lặn sâu vào bên trong vô thức, tiềm thức mới có thể khám phá ra được.

Sự dung hợp, đảo lộn không gian và thời gian – dòng bất định nhảy cóc của ý thức, tiềm thức

Truyện ngắn “Phiên Chợ Giát” của Nguyễn Minh Châu là một truyện không có cốt truyện ấn tượng khi mà tình huống và kết cấu khá đơn giản. Xuyên suốt tác phẩm chỉ có một sự kiện được miêu tả trong tuyên thời gian hiện tại, đó là chuyện lão Khúng dong con bò xuống chợ cầu Giát bán cho hàng thịt. Không gian và thời gian nghệ thuật của truyện cũng chỉ gói gọn trong hành trình di chuyển từ nhà đến phố chợ, từ khi lão thức dậy lúc hai, ba giờ sáng cho đến lúc bảy giờ sáng. Chỉ một quãng đường ngắn, một khoảng thời gian vài tiếng đồng hồ nhưng nhờ kĩ thuật dòng ý thức khi có dung hợp đảo lộn thời gian không gian giữa hiện tại và quá khứ, bề ngoài và bề sâu, ý thức và vô thức của dòng chảy nội tâm nhân vật mà vì thế mà các tình tiết được hiện lên được kéo giãn dài ra, chắp ghép vào đó là những hồi tưởng về quá khứ, về cuộc đời và số phận của nhân vật. Đó là cả một cuộc đời dài dằng dặc chứa đầy những nhọc nhằn, đau khô và những bi kịch. Từng quãng đời sống lại trong suy tưởng, ngắt quãng, chập chờn, “có những phi lí, những đọa đầy, lừa đảo, có những cái sống và cái chết, mồ hôi và nước mắt”. Nguyễn Minh Châu đã lựa chọn một chi tiết hết sức vụn vặt – chuyện bán bò – để kể về cuộc đời của một người, kể về một hiện thực, kể về một giai đoạn của lịch sử. Nhưng trong cái vụn vặt tưởng như không có gì để kể ấy nhà văn lại nhìn ra những tầm khái quát hiện thực và tầng triết lí sâu xa hơn cả. Những kí ức, hồi tưởng được chắp nối, cắt ghép không đồng đều, nằm rải rác ở các phần trần thuật của văn bản nhưng chúng ta có thể kết nối xâu chuỗi chúng với nhau để tạo thành các mạch truyện. Điều này đã tạo nên một không gian- thời gian nghệ thuật mới lạ, độc đáo của tầng sâu văn bản mạch ngầm phản ánh hiện thực. Mỗi mạch truyện bị chia cắt, dừng lại ở những liên tưởng, những kí ức sống động như hiện thực, đan xen trong những thanh âm của hiện thực. Tất cả hòa quyện vào nhau khiến cho người đọc có cảm giác bề bộn, ngổn ngang nhưng cũng rất tự nhiên như vô tình lạc mình trong dòng chảy ý thức của nhân vật. Mọi dấu hiệu của thực tại như được nén chặt để mở ra một hiện thực rộng mở hơn: hiện thực về cuộc đời lão Khúng, cũng là gián tiếp phản ánh một cách nhìn về hiện thực xã hội: hiện thực chiến tranh, lao động tập thể và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của đất nước lúc bây giờ của nhà văn.

Trong không gian căn nhà của lão Khúng

Sau cơn mê và trở lại thực tại, lão thấy nhạy bén hơn cả với mọi âm thanh xung quanh: Lắng nghe tiếng chó sủa xa cứ râm ran, như cắn đuổi ma đang bắt đầu lục đục ru về các chốn gió bụi,.. Bao nhiêu thứ ánh sáng cùng cái thứ tiếng máy đằng khu công nghiệp lớn, cả trong khe Đá Dầu cũng đã tắt hết cả, để rồi lão hơi sờ sợ một nỗi sờ sợ nguyên thủy y như có ai lại vừa ném lão trở vào một cái làng đất sâu hun hút và tối tăm – từ ở đấy ông bà tổ tiên lão đã ra đời, để sinh ra lão. Hồi ức, liên tưởng hay tâm tưởng cứ thấp thoáng hiện về giống như những thước phim cũ đã nhòe mờ, chập chờn. Từ đó, những xúc cảm từ quá khứ trở vè chân thật đến kì lạ: cái cảm giác tối tăm nặng nề ban nãy như một hòn đá tận dưới lòng đất sâu nối với thể xác lão bằng một sợi dây rất dài vô hình. Lão hình như đang nhớ về nơi chôn rau cắt rốn của mình – làng Khơi. Lão hướng mặt về phía biển, lắng tai nghe tiếng rì rào, rì rầm của sóng biển, của đất đai quê nhà và mồ mả cha ông. Đó là những thanh âm của hiện thực hay chỉ là những tiếng vọng lại từ quá khứ mà lão đã từng nghe thấy từ dời tám hoánh nào, từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Từ đây, nhưng thước phim cuộc đời lão Khúng từng lúc hiện về, nhân vật bắt đầu cuộc hành trình tìm lại chính mình từ trong những hồi ức xưa cũ.

Theo mạch thời gian của thực tại, không gian chuyển dịch trong căn bếp, chuồng bò của lão Khúng. Mạch hồi ức không tiếp nối mà lại bị bẻ gẫy thành câu chuyện về Khoang đen. Những kí ức hiện về vụn vặt, không theo trình tự, nhưng lại là những dấu ấn quan trong trong đời sống nội tâm của nhân vật. Từ suy tư về nguồn cội, lão Khúng lại nhớ về một chuyện khác, chuyện ngày xưa khi lão mới mua con Khoang đen về. Lão xuống bếp, cầm trên tay chiếc vòng dây chão đã cũ – chiếc vòng dây lão dùng để cột cổ bao nhiêu con bò đã từng gắn bó với đất cát nhà lão, đã từng đi qua đời nhà lão. Thậm chí lão còn ngửi thấy cả mùi mồ hôi của con vật rịn ra từ những lỗ chân lông. Những cảm nhận của tri giác ấy là hư hay là thực, là hiện thực hay quá khứ? Không gian xung quanh đã tối mờ đi, nhập nhòe như chứa đựng bao tâm tư; giống như một bầu khí quyển riêng mà nhân vật tự mình tạo nên, để sống, để nhớ, để chiêm nghiệm. Dòng chảy ý thức càng sáng tỏ thì nhũng đường ranh giới giữa quá khứ và thực tại càng trở nên hư ảo, không gian thời gian như tĩnh lại để cho nhân vật đặt mình trong thế chủ động, điều khiển chúng, tạo dựng nên chúng.

Hành trình tìm lại những quãng thời gian đã mất đi vẫn tiếp tục, song hành cùng tuyến thời gian của hiện thực. Khi đưa con bò ra khỏi cửa giàn, nhìn thấy Nghiên – đứa con gái áp út của mình đang đứng bên gốc vối, giật mình nhận ra nó đã biết lão sắp bán con bò đi, lão Khúng lại bâng khuâng nghĩ về quá khứ khi vợ chồng gia đình lão phải bỏ quê hương đi khai khẩn đất cát kiếm sống: Dù sao đời lão đã phải bỏ làng xóm, bỏ mồ mả tổ tiên ở dưới biển để lên tận đây, cái miền ngược ma thiêng nước độc này để khai khẩn đất cát kiếm miếng sống, lão vật lộn với miếng đất rừng này đến giờ đã gọi được là tạm mát mặt, hòn đất đã bớt đi rất nhiều mầm cỏ dại, hòn đất đã gần hoá thành hòn đất thuộc, lão đã tưới đến gần cạn kiệt mồ hôi cho mảnh đất này thì đời con lão lại phải bỏ đây để đi đến những miền khác, những miền rừng khác xa xôi hơn, mịt mùng hơn. Một dòng xúc cảm tựa như mới mẻ tựa như quen thuộc len lỏi trong lão, để lão chợt nhận ra một điều, mà hình như trong suốt đời mình lão cũng đã từng bao lần nghĩ đến: Chả lẽ đời của lão, cái số phận của lão, của vợ chồng, con cái lão là phải như vậy, cứ phải như vậy? Ôi, lão Khúng nghĩ, giá không phải chạy theo đứa con để bù trì nâng giấc cuộc sống ban đầu cho nó ở cái nơi đất khách quê người chắc chắn hôm nay lão không phải rong con Khoang đen xuống chợ Giát từ nửa đêm thế này? Quá khứ nhiều năm trước hiện về, lão cùng mụ Huệ vừa từ dưới làng Khơi lần mò đặt chân lên nơi này, có những đứa con, có những lo toan bộn bề của cuộc sống lắm nhọc nhằn khó khăn, và có cả những gì lão đã đánh mất khi sống ở nơi rừng rú này… Câu chuyện cuộc đời lão Khúng những thang ngày vất vả khai khẩn đất hoang, tự gầy dựng lên cuộc sống cho mình, đã phản ánh hiện thực về người nông dân. Những bộn bề khó nhọc tưởng như không bao giờ dứt của những số phận người nhỏ bé; qua đó, tác giả hướng nhiều hơn tới những khát vọng, ước mongchính đáng của con người: khát vọng được tự do bước đi trên con đường mình đã chọn, không bị chi phối bởi bất cứ tác động xã hội nào.

Trên đường dong con Khoang đen xuống chợ Cầu Giát.

Chặng đường từ nhà cho đến phiên chợ Giát giống như một cuộc hành trình tìm lại thời gian đã mất của lão Khúng vậy. Đến đây, ranh giới giữa hiện thực và quá khứ càng trở nên khó nắm bắt khi nhà văn không chỉ đơn thuần lồng vào những tuyến thời gian không lô-gic mà còn đan xen cả những xúc cảm chiêm nghiệm trong tầng vô thức của nhân vật.

Lão rắp tâm phải bán con bò đi nhưng lại lo sợ không biết phải “báo cáo” thế nào với những đứa con mình – những đứa trẻ đã gắn bó cả tuổi thơ ấu của mình với con Khoang đen, và chinh lão cũng hiểu rằng suốt mười tám năm nay, con bò đã trở thành một thành viên trong gia đình lão. Nhưng trái với suy ngẫm trong nội tâm, lão lại bực mình quát con bò, rủa mắng nó: Rảo bước đi nhanh lên, mà chết cho sớm sủa! Để cho người ta nện một búa vào đầu mày cho nhanh lên, đồ quỷ ạ! Nhưng giữa cái đêm tối bao la tĩnh mịch với những ngôi sao ẩm ướt nhấp nháy là giọt nước mắt đặc quánh đang dâng lên khóe mắt lão. Sự mâu thuẫn giữa nội tâm và hành động của nhân vật không phải là vô lí, trái lại, nó diễn tả một dòng ý thức chảy trôi tồn tại trong tầng vô thức của nhân vật, chỉ nhân vật, nhà văn và người đọc khi đặt mình vào điểm nhìn của nhân vật mới có thể cảm nhận được sự biện chưng của nó. Những biến động trong nội tâm nhân vật trở thành những lời độc thoại thể hiện niềm khao khát đi tìm lại quãng thời gian xưa cũ đã mất, cũng là đi tìm chính mình đã mất, là sự tự ý thức sâu sắc của con người lúc bấy giờ. Không còn là những giấc mơ kì lạ, những hồi ức xa xôi, chỉ còn lại một cõi miên man vô thức, nơi con người được bộc bạch hết thảy tâm tư sâu kín mà hiện thực không còn là lí tưởng để chia sẻ nữa.

Một hồi ức đau thương khác trong cuộc đời lão Khúng chợt hiện về: kí ức về ngày lão hay tin Dũng – con trai của lão đã hi sinh ở chiên trường Campuchia, nhưng tất cả gợi lại bằng những cảm giác cảm xúc vô cùng chân thực, khiến cho lão như một lần nữa phải trải nghiệm qua nó. Cái chết của Dũng – cái chết của người thanh niên trẻ trên chiến trường không khỏi gợi nhắc ta tới cái chết của những người đồng đội của Kiên (Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh) trong chiến tranh. Cả Kiên và lão Khúng đều đang sống trong tâm thế của những người phải gánh chịu những nỗi đau đớn và ám ảnh đeo bám suôt cuộc đời, những vết thương tâm hồn không bao giờ lành miệng mà chiến tranh đã gây nên. Hồi ức sống dậy trong lòng, âm ỉ như một đợt sóng biển phủ vào đất liền đã rút nhưng vẫn để lại cái chất mặn làm xót cây khoai, cây lúa. Bề ngoài lão Khúng có thể vẫn thể hiện là một chỗ dựa tinh thần vững chắc cho cả gia đình trong thời điểm mất mát bi thương ấy, nhưng xét đến cùng vào bề sâu nội tâm lão vẫn hằn chứa nỗi đau dai dẳng mà cho đến mãi sau này khi nhớ lại, nước mắt vẫn có thể rơi xuống, cất lên thành những tiếng than xót lòng: Bây giờ con đang lang thang ở đâu? Như vậy, một hiện thực khác lại được mở ra giữa sự nén chặt của không gian, thời gian hiện tại: hiện thực chiến tranh. Nguyễn Minh Châu đã tạo nên tinh đa thanh cho tác phẩm khi thông qua mỗi “mạch ý thức”, nhà văn lại gửi gắm một cái nhìn mang tính phản ánh sâu sa về hiện thực, xã hội. Cái chết của Dũng – con trai lão Khúng không còn là nỗi đau đớn của riêng gia đình lão, cũng như sự hi sinh của ba đứa con nhà mụ Hái – hàng xóm của lão trên chiến trường đã không còn là những day dứt thống khổ chịu đựng của riêng ai nữa, ấy là cả một nỗi buồn chiến tranh, là sự phơi bày mặt tối đã khuất đi đằng sau ánh hào quang của chiến thắng, của vinh quang, mà sau cùng, chỉ còn lại những giọt nước mắt lặng thầm, những nỗi đau giằng xé không biết phải chia sẻ cùng ai. Chiến tranh không chỉ cướp đi mạng sống của con người mà còn gián tiếp gây nên những thương tổn, những vết sẹo không bao giờ lành miệng, cướp đi cả hạnh phúc, tình yêu và ý nghĩa của cuộc sống. Ngòi bút tài tình cùng đôi mắt biết nhìn sâu vào hiện thực thể hiện cái nhìn và những khám phá mới mẻ, độc đáo của Nguyễn Minh Châu về chiến tranh có lẽ phải vô cùng tinh tế và tài hoa thì mới có thể viết được hay và sâu như thế.

Những suy tưởng của nhân vật vẫn không dừng lại mà tiếp tục kéo dài ra trong một cách nhìn hiện thực xã hội sâu xa của nhà văn. Lúc này, lão Khúng nhìn về phía những ngôi sao vừa tắt và chợt hình dung tới đồng chí bí thư huyện ủy – lão Bời. Không phải tự nhiên mà nhân vật này lại được nhà văn lồng vào cốt truyện, trở thành một những nỗi ẩn ức trong tâm hồn của lão Khúng, đeo bám lão từ giấc mơ cho đến những suy tưởng. Lão Khúng hiểu rõ và biết rõ con người ấy. Ngay từ những ngày tháng tiến hành đại cơ khí hoá nông nghiệp toàn huyện, ngay từ thuở ông Bời kết thân với lão, lão chỉ tranh cãi giả vờ, không bao giờ lão chịu nói ra ý nghĩ thực của lão với chủ tịch huyện, bởi chính lão tự nhận thức được vị trí của mình, ước muốn của mình và cái lí tưởng tự lập nghiệp sẽ bám riết lấy ý nghĩ của lão, đặt lão ở phía đối lập với lão bí thư huyện – cũng là với chính sách kinh tế tập trung lúc bấy giờ. Lão thấy mình không thuộc về cái xã hội “hiện đại” mà ông bí thư huyện ủy đã phải dốc sức cải tạo và lấy được uy tín của biết bao người ấy. Bởi thế, khi ông Bời lân la hỏi sang cảm tưởng những ngày lao động xã hội chủ nghĩa đầy náo nhiệt vừa qua, trong lòng lão Khúng chỉ có một ý nghĩ: Công trường với lại công triếc, toàn một lũ ăn cắp! Sự từ chối của lão Khúng đối với những đổi thay, “cải cách” của xã hội bấy giờ không phai là sự đi ngược lại với xu hướng, nhu cầu của cộng đồng, cũng không phải là sự lạc hậu cổ hủ của gia đình lão khi rời bỏ cái “náo nhiệt” ấy để đi lên một vùng đất mới, tự khai hoang lập nghiệp. Người lao động trong trang văn Nguyễn Minh Châu luôn hướng tới một lối đi riêng cho cuộc đời mình, khát vọng lao động và mong muốn được sống nhiều hơn vì mình, được tìm đến với ước mơ của riêng mình dẫu cho phải đấu tranh, phải trải qua bao dằn vặt đau khổ của cuộc sống mưu sinh. Và qua hành trình đấu tranh ấy, Nguyễn Minh Châu đã phản chiếu một hiện thực xã hội toàn diện hơn, sâu xa hơn, bằng một cái nhìn đậm tính nhân văn về cuộc đời và con người.

Độc thoại nội tâm – dòng chảy chiều sâu của tâm tư

Truyện ngắn Phiên chơ Giát là dòng chảy nội tâm, ý thức, vô thức, tiềm thức của một nhân vật lão Khúng và hiện thực đó dù xoay quanh nhân vật và gia đình nhân vật nhưng phạm vi phản ánh hiện thực lại mở ra rất rộng với các vấn đề lớn của xã hội. Độc thoại nội tâm thể hiện qua hai dạng: độc thoại nội tâm trong ý thức và độc thoại nội tâm trong vô thức.

Độc thoại nội tâm trong ý thức

Độc thoại nội tâm trong ý thức được hiểu một cách đơn giản là những ý nghĩ của nhân vật chưa thành hình kể cả thành hình xuất hiện trong dòng chảy của nhân vật một cách có ý thức. Nhân vật xác định được mình suy nghĩ gì, có điều nó không được thốt ra thành lời như đối thoại và độc thoại mà thôi. Hãy đến với một đoạn độc thoại nội tâm trong ý thức của lão Khúng để làm thấy được rõ hơn giá trị của nó: Có đi nhanh lên không nào, lão Khúng lấy làm bực mình vô cùng lên tiếng quát thật lực, đi nhanh lên! Rảo bước đi nhanh lên, mà chết cho sớm sủa! Để cho người ta nện một búa vào đầu mày cho nhanh lên, đồ quỷ ạ! Rồi đến lượt tao, tao cũng phải tìm cách “báo cáo” với chúng nó, với những đứa con trai lẫn con gái của tao rằng tao đã phải bán mày, rằng từ nay trong nhà không còn mày nữa, rằng tao đã giết mày! Mà mày cũng đã già nua tuổi tác rồi chứ chả còn là thiếu nữ hay nạ dòng gì nữa, ông trời sinh ra số kiếp mày đã như thế, suốt cả một đời nai lưng kéo cày, già thì giết thịt! Có ai để cho một con bò già rồi chết để làm đám tang cho thật to, thật linh đình bao giờ. Ở đây nhân vật đã suy nghĩ, đã đối thoại, nhưng là cuộc đối thoại trong tâm trí, không ai nghe thấy, chỉ lão biết đến những suy nghĩ của mình. Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã trao điểm nhìn trần thuật cho nhân vật, tạo nên tính chủ quan cho lời kể. Nhân vật như được tự bộc lộ những suy ngẫm của chính mình, được bật ra thành tiếng dòng chảy mãnh liệt của cảm xúc, và như tự phân thân để đối thoại với một cái “tôi” ẩn sâu, cái “tôi” chân thành nhất của mình.

Độc thoại nội tâm trong vô thức

Địa hạt vô thức chiếm phần lớn tâm tư con người và được biểu hiện thông qua trạng thái không bình thường trong tâm lý nhân vật, sự lỡ lời, những hồi ức, giấc mơ…

Độc thoại nội tâm vô thức tồn tại dưới dạng khi một nhân vật nhớ lại một điều gì đó trong hồi ức, có thể là một kỉ niệm hay một ám ảnh đối với nhân vật. Ta có thể thấy được rõ nét biểu hiện của nó trong một tiếng than của nhân vật lão Khúng khi chợt nhớ về một hồi ức đau thương trước đây- hồi ức về ngày lão hay tin Dũng – con trai lão đã hi sinh trên chiến trường Campuchia. Lúc bấy giờ, hồi ức ùa về như một dòng chảy xâm chiếm toàn bộ tâm trí, khiến lão như sống lại trong quá khứ, trong cõi vô thức mà chính mình dựng lên. Thời gian, không gian của hiện tại dần mờ đi, để hồi ức hiện rõ, để những nỗi đau đớn thống khổ tựa như miệng vết thương lại một lần nữa ứa máu, khiến cho nhân vật phải trải qua một cách trọn vẹn hết thảy. Cái tin sét đánh ấy hình như mới chỉ từ hôm qua thôi và những đau đớn giằng xé vẫn chà xát traí tim, để lão bật thốt lên thành lời trong dòng suy tưởng của mình: “Bây giờ con đang lang thang ở đâu?”

Dostoiepski cho rằng: “con người không bao giờ trùng khít với chính nó và sự sống thật sự lại thường diễn ra ở chỗ con người vượt ra ngoài giới hạn mà nó đã có”. Ở “Phiên chợ Giát”, Nguyễn Minh Châu đã đưa nhân vật của mình vượt ra khỏi những ranh giới bất biến của mơ – thực của hiện tại – quá khứ, xóa mờ sự ngăn cách vật lí và nén chặt không gian thời gian khác, những câu chuyện khác. “Phiên chợ Giát” tưởng như không có cốt truyện cụ thể nhưng lại có rất nhiều câu chuyện lồng ghép trong đó, phá vỡ sự logic thông thường. Cả câu chuyện chỉ có một nhân vật, chỉ có truyện cuộc đời một người, chỉ có một sự kiện nhỏ nhặt xuyên suốt, nhưng từ đó, Nguyễn Minh Châu lại mở ra một tầm khái quát hiện thực theo bề sâu, ấn tượng và sâu sắc, đó là sự thấu hiểu và trân trọng khát vọng đấu tranh vì điều thiện, ước muốn được lựa chọn con đường cho riêng mình, được lao động và cống hiến của những số phận nhỏ bé, bình thường trong cuộc sống. Đồng thời, đó cũng là cách nhìn về hiện thực xã hội và tầm nhìn xa trông rộng mới mẻ, hiện đại của nhà văn cũng là ước muốn thầm kín của Nguyễn Minh Châu với đất nước trước những thay đổi của thời cuộc.

Kết quả đọc sáng tạo bằng cách nhập vai, kể lại theo cách mới: Vi hành

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

 

Kết luận

  1. Rèn kĩ năng đọc hiểu TPNCT là một công việc thực sự cần thiết, có ý nghĩa quan trọng, không chỉ riêng với HS chuyên Văn, không chỉ có tác dụng trước mắt, không chỉ đáp ứng mục tiêu có tính chất thực dụng của việc dạy dỗ hiện thời. Làm tốt công việc này đồng nghĩa với việc người dạy trao cho HS một bộ công cụ giúp các em dễ dàng hơn trong việc tiếp cận tác phẩm ngoài CT. Đây cũng là một cơ hội cho HS hiểu rằng, đọc hiểu tác phẩm thực sự là một khoa học, tuyệt nhiên không hề là chuyện cảm tính, càng không phải là chém gió như phần đông các em đang ngộ nhận. Từ đó, góp phần rèn luyện tư duy khoa học, bồi dưỡng hứng thú với môn học, phát huy khả năng độc lập, tháo được cái ách nhai lại, học thuộc như một con vẹt lời giảng của thầy cô đã trở nên thâm căn cố đế cho người học vốn không phải không có sức học.
  2. Rèn kĩ năng đọc hiểu TPNCT có nhiều con đường, nhiều cách thức tiếp cận; nhiều hình thức tổ chức dạy học và kiểm chứng. Chuyên đề của chúng tôi, do nhiều điều kiện có hạn, chỉ xin minh hoạ một số trong số đó.
  3. Rèn kĩ năng đọc hiểu TPNCT luôn phải kết hợp giữa dạy lý thuyết và thực hành, thậm chí, có những đơn vị bài học nên bắt đầu từ thực hành đọc hiểu rồi hướng dẫn HS rút ra kĩ năng đọc hiểu.
  4. Khuyến nghị

Rèn kĩ năng đọc hiểu TPNCT không phải là chuyện dễ dàng một chiều một sớm. Để góp phần nâng cao hiệu quả của công việc này, chúng tôi có một vài khuyến nghị.

  1. Thứ nhất, người dạy phải luôn luôn thấm nhuần một tinh thần: qua cái học, phải chỉ cho học trò cách học. Điều này phải thường xuyên và bắt đầu từ những bài rất cơ bản trong SGK nên có thể vận dụng cho mọi đối tượng.
  2. Thứ hai, việc vận dụng kĩ năng phải hết sức linh hoạt, luôn coi trọng tính phù hợp để có hiệu quả.
  3. Thứ ba, việc ra đề kiểm tra, thi cử cũng rất nên thay đổi: đó là chú trọng hỏi về cách đọc, cách học; không nên chăm chăm hỏi về nội dung, kiến thức; đó là mạnh dạn (đặc biệt với đối tượng là HS chuyên) đưa ra những văn bản ngoài chương trình, tránh học gì thi nấy đối với phần NLVH như thi cử hiện nay.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. H.Abrams, Aglossary of litraryterms, http: //www.hbcolege.com.
  2. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn họcNXB Đại học Quốc gia, 2004.
  3. Bakhtin, Lí luận và thi pháp tiểu thuyết (dịch), NXB Văn học, 1992.
  4. Đỗ Hữu Châu, Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu. Bài giảng SĐH – ĐHSP I, 1993.
  5. Nguyễn Viết Chữ. Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010.
  6. Compagnon, Bản mệnh của lí thuyết (dịch), NXB Đại học Sư phạm, 2006.
  7. Đặng Anh Đào, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
  8. Lê Đạt, Bóng chữ. Nxb Văn học, 1994.
  9. Trần Thanh Đạm – Nguyễn Đăng Mạnh – Phương Lựu, Môn Văn và Tiếng Việt. Vụ giáo viên, 1995.
  10. Hà Minh Đức (chủ biên). Lý luận văn họcNxb Giáo dục, 2003.
  11. Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm, Văn học lãng mạn và hiện thực phương Tây thế kỉ XIX, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1985.
  12. Nguyễn Thị Phương Hoa, Lý luận và phương pháp dạy học hiện đại. Bài giảng SĐH – ĐHGD, 2010.
  13. La Khắc Hòa, Những vấn đề về thi pháp thể loại. Bài giảng SĐH – ĐHSP I, 2004.
  14. Nguyễn Ái Học, Phương pháp tư duy hệ thống trong dạy học Văn. NXB Giáo dục Việt Nam, 2010.
  15. Lê Quang Hưng – Phan Huy Dũng, Tác phẩm văn học 12 – Những vấn đề lịch sử và thể loại, Nxb Giáo dục, 2008.
  16. Nguyễn Thanh Hương, Định hướng tiếp nhận tác phẩm văn chương. NXB Đại học Sư phạm, 2004.
  17. Phạm Thị Thu Hương, Đọc hiểu và Chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông – NXB ĐHSP, 2018.
  18. Phan Trọng Luận, Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường THPT, Tài liệu BDTX chu kỳ 1997 – 2000, Vụ giáo viên, 1997.
  19. Phương Lựu, Lí luận và phê bình văn học phương Tây thế kỉ XXI, NXB Văn học, 2001.
  20. Trần Đình Sử, Dẫn nhập thi pháp học, NXB GD.
  21. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXBVH, 2000.
  22. Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Tài liệu chuyên Văn, Tập 1, NXBGDVN, 2012.
  23. Lã Nhâm Thìn, Đọc hiểu thơ trung đại Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.
  24. Nguyễn Văn Tùng, Lí luận văn học và đổi mới đọc hiểu tác phẩm, NXB Giáo dục Việt Nam.

You may also like

Leave a Comment